Phần lớn các bậc đế vương trong lịch sử phải bị kéo khỏi ngai vàng. Trần Nhân Tông thì tự mình bước xuống. Ông dẫn dắt Đại Việt qua hai cuộc chiến gian nan nhất thế kỷ XIII, trao quyền cho con khi mới ngoài ba mươi, rồi sống những năm cuối đời như một nhà sư trên ngọn núi quanh năm mây phủ ở vùng Quảng Ninh ngày nay. Người Việt gọi ông là Phật hoàng. Dòng thiền ông lập ra ở đó — Trúc Lâm — đến nay vẫn là thiền phái duy nhất khởi nguồn từ chính đất Việt.
Vị vua của thời chiến
Ông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258, con trưởng của vua Trần Thánh Tông. Cũng năm ấy, Đại Việt vừa đẩy lùi lần xâm lược đầu tiên của quân Mông Cổ. Năm 1278, ông được vua cha truyền ngôi, và suốt mười năm sau đó, vị vua trẻ phải chuẩn bị cho ngày quân phương Bắc quay lại. Họ quay lại thật, hai lần.
Cuối năm 1284, khi đạo quân của Hốt Tất Liệt sắp vượt biên giới lần thứ hai, triều đình mời các bô lão khắp nước về họp ở thềm điện Diên Hồng, hỏi nên đánh hay nên hòa. Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng các cụ đồng thanh hô “Đánh!”. Người triệu tập hội nghị là Thượng hoàng Thánh Tông, bên cạnh vua Nhân Tông đang trị vì. Bảy thế kỷ sau, “tinh thần Diên Hồng” vẫn là cách người Việt nói về sự đồng lòng của cả nước trước hiểm nguy.
Công đầu trên chiến trường thuộc về các tướng lĩnh, trước hết là Trần Hưng Đạo với chiến thắng Bạch Đằng tháng 4 năm 1288, khép lại cuộc xâm lược lần thứ ba (bài viết về bãi cọc Bạch Đằng). Phần của Nhân Tông là giữ cho triều đình không tan rã qua hai lần bỏ ngỏ kinh thành. Ít ngày sau trận Bạch Đằng, nhà vua về Chiêu Lăng ở Long Hưng, nơi an táng ông nội là Trần Thái Tông, làm lễ dâng thắng trận. Tương truyền ông thấy đôi ngựa đá chầu trước lăng lấm đầy bùn, như thể chúng cũng vừa ra trận, và viết hai câu:
Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu.
Đại ý: xã tắc hai phen ngựa đá cũng nhọc nhằn; non sông muôn thuở vững như âu vàng. Chuyện ngựa đá dính bùn là truyền thuyết; còn việc hai câu thơ do Nhân Tông viết bên lăng Thái Tông năm 1288 là điều sử sách vẫn ghi nhận.
Rời ngôi một cách có chủ ý
Năm 1293, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông và lên làm Thái thượng hoàng. Đó không phải chuyện lạ thường. Nhà Trần biến việc này thành nề nếp: vua nhường ngôi sớm rồi đứng sau dìu dắt vua con, để việc kế vị được định đoạt ngay khi người cha còn đủ sức bảo đảm. Cha và ông nội của Nhân Tông đều đã làm đúng như vậy.
Điều khác thường là những gì ông làm sau đó. Năm 1299, ông lên Yên Tử — ngọn núi vốn là đất Phật từ lâu — xuất gia với pháp hiệu Hương Vân Đại Đầu Đà, giữ hạnh tu khổ hạnh nghiêm ngặt, và lập nên Thiền phái Trúc Lâm. Phật giáo từ Ấn Độ và Trung Hoa đã vào Việt Nam qua nhiều thế kỷ; Trúc Lâm thường được xem là nơi hội tụ các dòng thiền có trước thành một thiền phái của người Việt, với tổ sư người Việt, kinh sách người Việt. Kế tục ông là Pháp Loa rồi Huyền Quang, được tôn là Trúc Lâm tam tổ.
Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Cư trần lạc đạo phú, được viết bằng chữ Nôm chứ không phải chữ Hán. Lựa chọn ấy có ý nghĩa: nó đưa tư tưởng Phật học sâu xa vào chính thứ tiếng người dân đang nói. Bài phú khép lại bằng bốn câu kệ mà nhiều người Việt vẫn thuộc lòng:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Đại ý: sống giữa đời mà vui với đạo, cứ tùy duyên; đói thì ăn, mệt thì ngủ; báu vật sẵn trong nhà, thôi đừng tìm đâu xa; gặp cảnh mà lòng không vướng thì chẳng cần hỏi thiền là gì. Một thông điệp rất “đời” từ người vừa rời cung điện lên núi: giác ngộ không nằm ở nơi nào khác.
Ngoại giao trong tấm áo nâu
Đi tu không có nghĩa là rời bỏ việc nước. Năm 1301, Thượng hoàng vào Chăm Pa, lưu lại triều đình vua Chế Mân (Jaya Simhavarman III) khoảng chín tháng, và hứa gả con gái là công chúa Huyền Trân. Đám cưới diễn ra năm 1306; đổi lại, Chăm Pa dâng hai châu Ô và Lý, được Đại Việt đổi tên thành Thuận và Hóa — gốc của địa danh Thuận Hóa, vùng đất quanh Huế ngày nay. Khoảng một năm sau, Chế Mân qua đời; theo tục Chăm, hoàng hậu phải hỏa táng theo chồng, và Huyền Trân được Trần Khắc Chung đưa về nước. Chuyện tình giữa hai người mà các giai thoại về sau thêm vào thì không có căn cứ sử liệu.
Những ngày cuối trên Yên Tử
Những năm cuối đời, Nhân Tông đi khắp nơi giảng đạo cho tăng chúng và khuyên dân giữ Thập thiện. Ông truyền y bát cho Pháp Loa và viên tịch ngày 16 tháng 12 năm 1308 tại am Ngọa Vân trên núi Yên Tử, thọ 51 tuổi theo cách tính tuổi của người Việt.
Vì sao đến nay vẫn còn ý nghĩa
Mỗi mùa xuân, dòng người hành hương lại leo Yên Tử lên tới ngôi chùa Đồng nhỏ trên đỉnh — chính là con đường trong ảnh bìa. Tháng 7 năm 2025, UNESCO ghi danh Quần thể di tích và danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc là di sản thế giới thứ chín của Việt Nam, mà hạt nhân là Thiền phái Trúc Lâm. Nhưng di sản sâu xa hơn là con người ông. Nhiều dân tộc để anh hùng chiến trận và bậc hiền triết ở hai ngăn riêng; người Việt có một người là cả hai — và chính ông, khi đang ở đỉnh cao quyền lực, tự thấy mình đã làm đủ.
Nguồn
- Trần Nhân Tông — Wikipedia
- Trần Nhân Tông — Wikipedia tiếng Việt
- Trúc Lâm — Wikipedia
- Huyền Trân — Wikipedia
- Trần Nhân Tông, the King and the Buddha of the Vietnamese — Việt Nam News
- Vua Trần Nhân Tông — Anh hùng dân tộc kiêm triết gia, thi sĩ — Nhân Dân
- Tinh thần Diên Hồng sống mãi — Tuổi Trẻ
- Đọc bài kệ Cư trần lạc đạo — Tạp chí Nghiên cứu Phật học
- Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn – Kiếp Bạc complex recognised as world cultural heritage — Việt Nam News
Ảnh bìa: người hành hương trên sống núi Yên Tử, chùa Đồng ẩn trong sương trên đỉnh, tác giả Thang Nguyen, giấy phép CC BY-SA 2.0, qua Wikimedia Commons.
