Kiểm soát thủ tục hành chính theo Nghị định 385/2026: trả kết quả điện tử, người dân được từ chối yêu cầu ngoài quy định

Mỗi giấy phép, đăng ký hay chứng nhận ở Việt Nam đều đi kèm một thủ tục hành chính: trình tự, hồ sơ, điều kiện, thời hạn mà cơ quan nhà nước đặt ra trước khi giải quyết việc cho người dân, doanh nghiệp. Suốt 16 năm, cách đặt ra, công bố và cắt giảm các thủ tục đó được điều chỉnh bởi Nghị định 63/2010, qua hai lần sửa đổi. Ngày 9/10/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 385/2026/NĐ-CP thay thế văn bản này, với tinh thần xuyên suốt là dữ liệu và môi trường số. Nghị định có hiệu lực ngay ngày hôm sau, 10/10, trùng Ngày Chuyển đổi số quốc gia.

Thông tin văn bản

  • Số hiệu, tên gọi: Nghị định 385/2026/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính.
  • Cơ quan ban hành: Chính phủ. Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà ký thay mặt Chính phủ, theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
  • Ngày ký: 09/10/2026.
  • Hiệu lực: 10/10/2026.
  • Bố cục: 7 chương, 39 điều. Chương IV dành riêng cho ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm soát thủ tục hành chính.
  • Văn bản hết hiệu lực: Nghị định 63/2010/NĐ-CP (ký ngày 08/6/2010) và hai nghị định sửa đổi, bổ sung là 48/2013/NĐ-CP và 92/2017/NĐ-CP. Nghị định 385 cũng sửa Điều 5 Nghị định 78/2025/NĐ-CP (hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật), dẫn chiếu việc quy định thủ tục hành chính trong văn bản quy phạm pháp luật sang pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính.

Phạm vi và đối tượng

Nghị định áp dụng với cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cơ quan trung ương tổ chức theo ngành dọc đóng tại địa phương (hải quan, thuế…), chính quyền địa phương cấp tỉnh và cấp xã, cùng cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính. Ba nhóm nằm ngoài phạm vi điều chỉnh: thủ tục nội bộ trong một cơ quan do chính cơ quan đó quy định; thủ tục xử lý vi phạm hành chính, thanh tra, kiểm tra; thủ tục có nội dung bí mật nhà nước. Các cơ quan ngoài hệ thống hành chính được khuyến khích áp dụng.

Bộ Tư pháp giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về kiểm soát thủ tục hành chính, thông qua Cục Kiểm soát thủ tục hành chính. Theo Nghị định 63 (bản sửa đổi năm 2017), Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính do Văn phòng Chính phủ xây dựng và duy trì. Ở bộ, đầu mối là tổ chức pháp chế hoặc Văn phòng bộ. Ở tỉnh là Văn phòng UBND tỉnh, còn ở xã là Trung tâm Phục vụ hành chính công.

Những điểm mới

1. Nguyên tắc số trở thành yêu cầu pháp lý (Điều 4, 6, 7). Kiểm soát thủ tục hành chính “phải gắn với chuyển đổi số và quản trị dữ liệu, bảo đảm khai thác, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu” trong toàn bộ quá trình giải quyết. Mọi thủ tục quy định trong văn bản quy phạm pháp luật phải bảo đảm “nguyên tắc số hóa, sử dụng, kết nối liên thông dữ liệu, định danh điện tử, chỉ cung cấp thông tin một lần” (điểm g khoản 1 Điều 6). Người dân được chọn cách thực hiện, trong đó ưu tiên môi trường điện tử và không phụ thuộc vào địa giới hành chính (khoản 4 Điều 7).

2. Muốn đặt ra thủ tục, phải chứng minh dữ liệu không làm thay được (Điều 12). Khi đánh giá tác động, cơ quan soạn thảo phải đánh giá cả mức độ ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng thực hiện trên môi trường điện tử. Thủ tục chỉ được quy định sau khi đã đánh giá tác động và không thể thay bằng một trong bốn biện pháp:

  • hậu kiểm, quản lý theo rủi ro hoặc tự công bố;
  • cá nhân, tổ chức tự thực hiện, tự chịu trách nhiệm;
  • xã hội hóa cho tổ chức xã hội - nghề nghiệp đủ điều kiện;
  • khai thác, sử dụng dữ liệu.

Nói cách khác, nếu Nhà nước đã có sẵn thông tin thì một tờ khai mới đòi lại thông tin đó khó có thể qua được khâu thẩm định.

3. Đánh giá tác động cạnh tranh và đổi mới sáng tạo (Điều 13). Thủ tục phải đánh giá riêng về bảo đảm cạnh tranh nếu có khả năng tạo rào cản gia nhập thị trường, hạn chế số chủ thể tham gia, tạo lợi thế không bình đẳng, hoặc “hạn chế đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới”. Thủ tục liên quan đến sức khỏe cộng đồng, môi trường, an ninh, trật tự hoặc lợi ích công cộng lớn phải đánh giá về quản lý rủi ro.

4. Thông báo trước khi ban hành thủ tục mới (Điều 9, 10). Trước khi ban hành thủ tục mới, bộ hoặc tỉnh phải thông báo tới Bộ Tư pháp trên Nền tảng số về kiểm soát thủ tục hành chính. Thông báo nêu tên thủ tục, phạm vi, vấn đề cần giải quyết, chi phí tuân thủ và thời gian dự kiến ban hành. Dự kiến thủ tục cũng được đăng tải trên nền tảng này để lấy ý kiến. Các trường hợp được miễn gồm tình huống khẩn cấp, thủ tục giảm chi phí hoặc tạo thuận lợi hơn, văn bản ban hành theo trình tự rút gọn và thủ tục nội bộ. Trong thời gian nền tảng chưa vận hành đầy đủ, việc thông báo thực hiện bằng văn bản điện tử qua Trục liên thông văn bản quốc gia (xem bài về Quyết định 43/2026).

5. Trả kết quả điện tử là mặc định (Điều 15). Kết quả giải quyết thủ tục hành chính được cung cấp bằng hình thức điện tử. Bản giấy chỉ được trả khi cá nhân, tổ chức yêu cầu hoặc pháp luật có quy định. Cơ quan giải quyết phải bảo đảm cung cấp thông tin một lần, liên thông điện tử và ưu tiên sử dụng dữ liệu, dịch vụ số.

6. Cơ sở dữ liệu quốc gia là nguồn chính thức (Điều 17, 25, 26). Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, vận hành trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, là “nguồn thông tin chính thức, có giá trị pháp lý” để công khai và áp dụng thống nhất trên toàn quốc. Mẫu đơn, tờ khai tải từ đây có giá trị như mẫu do cơ quan phát trực tiếp. Thời hạn nhập thủ tục đã công bố lên cơ sở dữ liệu được rút ngắn. Với bộ, thời hạn là 05 ngày làm việc kể từ ngày ký quyết định công bố (trước đây theo Nghị định 92/2017 là 10 ngày làm việc). Với Chủ tịch UBND các cấp là 03 ngày làm việc, với văn bản ban hành theo trình tự rút gọn là 02 ngày làm việc. Khi Bộ Tư pháp phát hiện sai sót, cơ quan liên quan phải sửa trong 05 ngày làm việc.

7. Địa phương phải công bố sớm hơn (Điều 17). Quyết định công bố của bộ vẫn phải ban hành chậm nhất 20 ngày trước ngày văn bản có thủ tục hành chính có hiệu lực. Với Chủ tịch UBND cấp tỉnh, cấp xã và cơ quan được giao hoặc ủy quyền, mốc này tăng từ 05 ngày lên 10 ngày. Với văn bản ban hành theo trình tự rút gọn, có hiệu lực ngay khi ký, quyết định công bố phải ra trong 03 ngày làm việc.

8. Quyền của người dân tại quầy (Điều 18, 20, 21). Cơ quan phải nêu rõ lý do bằng văn bản khi từ chối giải quyết hoặc yêu cầu bổ sung giấy tờ, và không được tự đặt ra thủ tục, hồ sơ, giấy tờ ngoài quy định. Công chức, viên chức phải hướng dẫn bổ sung hồ sơ cụ thể, đầy đủ trong một lần, để người dân không phải đi lại nhiều lượt. Cá nhân, tổ chức được từ chối những yêu cầu không có trong thủ tục hành chính hoặc chưa được công khai theo quy định.

9. Rà soát dựa trên dữ liệu (Chương V). Việc rà soát, đánh giá thủ tục sau ban hành phải dựa trên thông tin, dữ liệu, bằng chứng. Được ưu tiên rà soát là thủ tục có nhiều hồ sơ, chi phí lớn, nhiều phản ánh, có khả năng điện tử hóa hoặc liên thông, và cả thủ tục không phát sinh hồ sơ trong 03 năm liên tiếp. Tiêu chí rà soát nêu rõ mức độ cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, mức độ tự động hóa, khả năng dùng định danh điện tử, chữ ký số và thanh toán điện tử (khoản 5 Điều 31). Báo cáo gửi Bộ Tư pháp thực hiện bằng chế độ báo cáo điện tử qua nền tảng số (Điều 36).

Tác động thực tế

  • Với doanh nghiệp: công cụ mạnh nhất là Điều 21. Nếu cán bộ đòi một giấy tờ không có trong thủ tục đã công khai trên Cơ sở dữ liệu quốc gia, doanh nghiệp có quyền từ chối. Quyền này đi kèm nghĩa vụ hướng dẫn một lần và nghĩa vụ nêu lý do bằng văn bản của cơ quan nhà nước. Doanh nghiệp, hiệp hội tham gia góp ý chính sách có thêm hai kênh: thông báo, đăng tải dự kiến thủ tục mới theo Điều 9, và phép thử cạnh tranh, đổi mới sáng tạo theo Điều 13.
  • Với doanh nghiệp công nghệ, fintech: phép thử đổi mới sáng tạo cho thêm căn cứ pháp lý để lập luận rằng một bước cấp phép mới là rào cản không cần thiết với mô hình kinh doanh mới. Các đơn vị xây dựng hệ thống dịch vụ công sẽ thấy nhu cầu về tích hợp dữ liệu, định danh điện tử và tự động hóa xử lý tăng lên, vì đây giờ là tiêu chí rà soát chính thức.
  • Với người dân: kết quả điện tử là mặc định. Ai cần bản giấy thì nên nêu yêu cầu rõ ràng.
  • Với bộ, ngành, địa phương: thời hạn nhập dữ liệu ngắn hơn, mốc công bố ở địa phương dài hơn, và chế độ báo cáo điện tử theo tháng, quý, 6 tháng, năm vẫn duy trì.

Những điểm còn bỏ ngỏ

Nghị định giao nhiều nội dung cho Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn: đánh giá tác động (khoản 7 Điều 12), công bố thủ tục (khoản 3 Điều 16), tiêu chí rà soát (khoản 7 Điều 31) và chế độ báo cáo (khoản 4 Điều 36). Đến thời điểm viết bài, chưa có hướng dẫn nào được công bố. Nền tảng số theo Điều 23 cũng chưa vận hành đầy đủ, như chính khoản 5 Điều 39 đã thừa nhận. Nghị định không có chế tài riêng, nên quyền “từ chối yêu cầu chưa công khai” phụ thuộc vào kênh phản ánh, kiến nghị (Điều 22) và các quy định hiện hành về xử lý kỷ luật công chức. Cuối cùng, chỉ một ngày từ khi ký đến khi có hiệu lực là quá ngắn để chuẩn bị. Các đề xuất chính sách, dự thảo đang thực hiện trước đó vẫn đánh giá tác động thủ tục theo quy định cũ (khoản 6 Điều 39).

Nguồn

Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.

© 2026 Tao Nhu Blog