82 tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu ghi danh khoảng 1.300 người đỗ đạt cao nhất. Về những người điều hành ngôi trường thì bia nói rất ít. Quốc Tử Giám, lập năm 1076, trong phần lớn lịch sử có một người đứng đầu và một người phó, và không ít danh nho nổi tiếng nhất nước từng giữ một trong hai chức ấy.
Hai chức danh: Tế tửu và Tư nghiệp
Người đứng đầu Quốc Tử Giám là Tế tửu (祭酒), tên gọi mượn từ quan chế Trung Hoa. Nghĩa đen là “người dâng rượu”, theo lệ trong các buổi tế lễ, người cao tuổi và có uy tín nhất được rót rượu cúng. Trên thực tế, Tế tửu tương đương hiệu trưởng: lo việc dạy học, quản lý giám sinh và tham gia tổ chức thi cử. Giúp việc cho ông là Tư nghiệp (司業).
Thứ bậc giữa hai chức không cố định. Thời Trần, Tư nghiệp là chức học quan cao nhất ở Quốc Tử Giám, thực chất là người đứng đầu. Sang Lê sơ thế kỷ XV, Tế tửu thành người đứng đầu, còn Tư nghiệp lùi xuống làm phó. Các nhà nghiên cứu đã sưu tầm tiểu sử của khoảng một trăm người từng giữ hai chức này tính đến cuối thời Lê. Con số công bố không thống nhất (một nguồn ghi 97, nguồn khác ghi 103). Văn Miếu hiện trưng bày một bảng đánh số các vị Tế tửu, Tư nghiệp do giới nghiên cứu ngày nay tập hợp, vì các triều đại không để lại danh sách đầy đủ. Bài này chỉ điểm những gương mặt có tư liệu rõ ràng nhất, không phải một bảng danh sách trọn vẹn.
Chu Văn An: người thầy treo ấn từ quan
Tên tuổi lớn nhất là Chu Văn An (1292–1370). Ông mở trường Huỳnh Cung ở quê nhà Thanh Liệt, phía nam Thăng Long. Vua Trần Minh Tông mời ông về triều làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám và dạy thái tử Trần Vượng, tức vua Trần Hiến Tông sau này. Ông soạn Tứ thư thuyết ước, sách tóm lược Tứ thư dùng để giảng dạy, nay đã thất truyền.
Người đời nhớ ông nhiều hơn ở cách ông ra đi. Dưới triều Trần Dụ Tông, khi triều chính suy đồi, ông dâng Thất trảm sớ xin chém bảy kẻ nịnh thần. Vua không nghe. Chu Văn An từ quan, về núi Chí Linh dạy học và mất ở đó năm 1370. Cùng năm, vua Trần Nghệ Tông ban tên thụy Văn Trinh và cho thờ ông ở Văn Miếu. Ông là người Việt đầu tiên được phối thờ cùng Khổng Tử và các bậc tiên hiền. Đến nay ông vẫn được thờ tại Văn Miếu, và ngành giáo dục tôn ông là “vạn thế sư biểu”, người thầy mẫu mực của muôn đời.
Ông không phải Tư nghiệp nổi tiếng duy nhất. Dưới triều Hồ (1400–1407) ngắn ngủi, Nguyễn Phi Khanh, thân phụ Nguyễn Trãi, giữ chức Hàn lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc Tử Giám.
Lê sơ: tấm bia và người đứng đầu trường
Thời Lê sơ, chức Tế tửu gắn trực tiếp với lịch sử bia tiến sĩ.
Nguyễn Trực (1417–1474) đỗ đầu kỳ thi Đình năm 1442, là trạng nguyên đầu tiên của nhà Lê, và tên ông đứng đầu tấm bia tiến sĩ thứ nhất. Dòng họ và dân gian gọi ông là “lưỡng quốc trạng nguyên” qua câu chuyện về một lần đi sứ phương Bắc. Đó là truyền tụng, không phải chính sử ghi chép. Phần chắc chắn là quan lộ của ông: năm 1463, vua Lê Thánh Tông thăng ông làm Hàn lâm thừa chỉ kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám.
Bản thân tấm bia khoa 1442 đến năm 1484 mới được dựng. Bài ký trên bia do Thân Nhân Trung (sinh 1418 hoặc 1419, mất 1499) soạn theo lệnh vua. Ông đỗ Hội nguyên khoa 1469, là Phó nguyên súy hội Tao Đàn của Lê Thánh Tông, và kiêm chức Tế tửu Quốc Tử Giám bên cạnh các chức vụ cao hơn. Như vậy câu “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, câu văn nổi tiếng nhất của nền giáo dục Việt Nam, do một vị Tế tửu đương nhiệm viết ra. Ông viết về một khoa thi mà người đỗ đầu cũng đã từng làm Tế tửu hai mươi năm trước.
Sử gia Ngô Sĩ Liên, người cùng đỗ khoa 1442 và là tác giả Đại Việt sử ký toàn thư, cũng từng làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám.
Lê trung hưng: cha con cùng trường, sửa nhà Thái học
Sau nội chiến Lê – Mạc, chức Tế tửu vẫn duy trì dưới thời Lê trung hưng, khi thực quyền nằm trong tay chúa Trịnh. Ba cuộc đời làm quan dưới đây cho thấy chức này vận hành ra sao ở giai đoạn đó.
Nguyễn Phùng Thời (1684–1754), người Nghệ An, đỗ tiến sĩ năm 1715 và được bổ làm Tế tửu năm 1736. Con trai ông là Nguyễn Bá Quýnh (1710–1772) đỗ tiến sĩ năm 1733 và làm Tư nghiệp. Cha làm Tế tửu, con làm Tư nghiệp, hai chức cao nhất của Quốc Tử Giám về tay một nhà, là chuyện rất hiếm.
Nhữ Đình Toản (1703–1773), còn có tên là Nhữ Công Toản, người làng Hoạch Trạch, xứ Hải Dương, xuất thân trong một dòng họ khoa bảng hiếm có: ông nội là Tiến sĩ Nhữ Tiến Dụng, cha là Tiến sĩ Nhữ Đình Hiền, anh là Bảng nhãn Nhữ Trọng Thai, và về sau con ông, Nhữ Công Chấn, cũng đỗ Hoàng giáp. Ông đỗ Hội nguyên khoa 1736, tên khắc trên bia tiến sĩ khoa ấy. Phần lớn quan lộ của ông diễn ra ở ngoài kinh. Năm 1741, khi làm Tuần phủ đi dẹp loạn, ông bị quân nổi dậy bắt, nhưng lại thuyết phục được tướng giặc ra hàng. Nhờ đó ông được chúa Trịnh Doanh tin dùng, lên tới Tham tụng (chức tương đương tể tướng, nắm toàn bộ công việc triều chính dưới quyền chúa Trịnh), Thượng thư Bộ Binh, và giữ chức Tế tửu Quốc Tử Giám. Trên bảng danh sách các vị Tế tửu, Tư nghiệp ở Văn Miếu, ông mang số thứ tự 78. Ông quan tâm thực chất đến khoa cử: năm 1751 ông đề xuất sửa đổi lối thi và lối văn trường quy, và vâng sắc soạn bài ký cho hai tấm bia tiến sĩ, khoa 1752 và khoa 1757. Nhà sử học, văn học Ngô Thì Sĩ (1726–1780) là một trong những học trò của ông (Ngô Thì Sĩ là cha của các danh sĩ Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hương và là cha vợ của Phan Huy Ích). Ông mất năm 1773, được truy tặng Thái bảo.
Vũ Miên (1718–1782), người xứ Kinh Bắc, đỗ Hội nguyên khoa 1748. Ông kiêm chức Tế tửu từ năm 1767 đến 1780, khoảng mười ba năm, dưới thời chúa Trịnh Sâm. Cùng Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Hoản, ông tu sửa nhà Thái học và cho đúc chuông Bích Ung. Ông còn tham gia biên soạn Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, sách chép danh sách người đỗ đạt qua các triều. Nhiệm kỳ của ông kết thúc năm 1780, đúng năm tấm bia cuối cùng trong 82 tấm được dựng.
Nhà bác học Lê Quý Đôn (1726–1784), đỗ Bảng nhãn, cũng từng làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám trong thời kỳ này.
Vào Huế: chức Tế tửu theo kinh đô
Nhà Nguyễn dời kinh đô vào Huế. Năm 1803, ở đây mở Đốc học đường, đến năm 1820 vua Minh Mạng đổi tên thành Quốc Tử Giám. Hai chức Tế tửu đứng đầu và Tư nghiệp làm phó vẫn được giữ.
Lệ thường, Tế tửu phải đỗ từ tiến sĩ trở lên. Một ngoại lệ được biết đến là Nguyễn Thuyên (1790–1853), người Nam Định. Ông ba lần thi Hương chỉ đỗ tú tài (1816, 1819, 1822), đến lần thứ tư năm 1825 mới đỗ cử nhân. Sau nhiều năm làm đốc học các tỉnh, đào tạo được 3 thám hoa và 17 tiến sĩ, ông làm Tư nghiệp năm 1841, rồi được vua Thiệu Trị bổ làm Tế tửu năm 1846. Triều đình chọn ông vì thành tích dạy học, không phải vì học vị.
Quốc Tử Giám Huế dời vào trong Kinh thành năm 1908 và ngừng hoạt động năm 1945, khi chế độ quân chủ cáo chung. Chức Tế tửu cũng chấm dứt từ đó.
Hôm nay: một trung tâm di sản thay cho Tế tửu
Văn Miếu – Quốc Tử Giám ở Hà Nội không còn Tế tửu. Từ ngày 25/4/1988, di tích do Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám quản lý. Trung tâm được thành lập theo Quyết định 1776/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội và nay trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao. Lúc mới lập, trung tâm có 8 người, đến năm 2018 là 93 người.
Người đứng đầu trung tâm là nhà quản lý di sản, không phải bậc đại nho, nhưng có người vẫn để lại dấu ấn rõ. Nguyễn Quang Lộc, vốn là cán bộ thư viện và nhà văn, về trung tâm năm 1988, làm phó giám đốc năm 1990 và giám đốc từ năm 1996. Thời ông, các tượng thờ được tu bổ, nhà Thái Học được dựng lại, và lượng khách tăng từ khoảng 5.000 người mỗi năm lên hơn một triệu. Một bài báo năm 2006 gọi ông, nửa đùa nửa thật, là “ông quan tế tửu Văn Miếu”. Lê Xuân Kiêu nhận trọng trách quản lý di tích từ năm 2016 và là giám đốc hiện nay.
Năm 2026 là tròn 950 năm Quốc Tử Giám. Bia tiến sĩ ghi lại những người đỗ đạt. Danh sách những người đứng đầu, từ một thầy giáo thế kỷ XIV từ quan vì một tờ sớ đến một nhà quản lý thế kỷ XXI đón hơn triệu khách mỗi năm, ghi lại những người đã giữ gìn ngôi trường ấy.
Nguồn
- Quốc tử giám — Wikipedia tiếng Việt
- Chu Văn An — Wikipedia tiếng Việt
- Chu Văn An, Trương Hán Siêu và Đỗ Tử Bình được vua Trần cho thờ ở Văn Miếu — VnExpress
- Những bậc thầy tiêu biểu của Quốc Tử Giám qua các triều đại — CafeBiz
- Nguyễn Trực — Wikipedia tiếng Việt
- Tấm bia tiến sĩ đầu tiên và bài ký của Thân Nhân Trung — Người Hà Nội
- Tiến sĩ Thân Nhân Trung — Cổng thông tin tỉnh Bắc Giang
- Cha giữ chức Tế tửu, con làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám — Dân Việt
- Hội nguyên Tiến sĩ Nhữ Đình Toản — danh thần toàn tài xứ Đông — VOV2
- Nhữ Đình Toản và giai thoại tiền hóa thành đất — Dân Việt
- 82 văn bia tại Văn Miếu Hà Nội (khoa 1757) — Họ Ninh Việt Nam
- Ngô gia văn phái — Wikipedia tiếng Việt
- Ngô Thì Sĩ (1726–1780) — Cổng thông tin phường Buôn Hồ
- Tế tửu Quốc Tử Giám Vũ Miên — Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
- Danh nho nào chỉ đỗ Cử nhân vẫn được chọn làm Tế tửu Quốc Tử Giám? — Dân Việt
- Chỉ đỗ Cử nhân vẫn được chọn làm Tế tửu Quốc Tử Giám — Giáo dục & Thời đại
- Quốc Tử Giám (Huế) — Wikipedia tiếng Việt
- Trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu – Quốc Tử Giám, 30 năm xây dựng và phát triển — Thế giới Di sản
- Ông “quan tế tửu” Văn Miếu – Quốc Tử Giám — Công an Nhân dân
Ảnh bìa: Khuê Văn Các, Văn Miếu, Hà Nội — tác giả Chuoibk, giấy phép CC BY-SA 3.0, qua Wikimedia Commons (đã thu nhỏ).
