Đi qua khoảng sân thứ ba của Văn Miếu – Quốc Tử Giám, bạn sẽ gặp hai dãy bia đá dài, tấm nào cũng đặt trên lưng một con rùa đá. Có tất cả 82 tấm. Gộp lại, chúng là một thứ hiếm có: bản ghi công khai, liên tục hơn ba thế kỷ, về những người đã đỗ kỳ thi cao nhất của đất nước.
Có đền trước, có trường sau
Khu di tích có trước những tấm bia rất lâu. Năm 1070, vua Lý Thánh Tông cho dựng Văn Miếu thờ Khổng Tử. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông lập Quốc Tử Giám ngay bên cạnh. Ban đầu đây là nơi học của con vua và con nhà quyền quý. Dần dần nơi này trở thành đỉnh của cả một hệ thống giáo dục. Khoa cử Nho học vừa đưa người vào Quốc Tử Giám, vừa lấy người từ đó ra.
Dù vậy, trong gần bốn thế kỷ, đỗ đạt chỉ đem lại phẩm hàm, chức tước, chưa có một tượng đài lâu dài nào ghi công. Điều đó chỉ thay đổi khi có một vị vua quyết định khác.
Quyết định năm 1484 của Lê Thánh Tông
Năm 1484, vua Lê Thánh Tông (trị vì 1460–1497) ra lệnh khắc tên các tiến sĩ lên bia đá và dựng tại Văn Miếu. Việc ghi danh không bắt đầu từ triều của chính ông mà ngược về khoa Nhâm Tuất năm 1442, niên hiệu Đại Bảo thứ ba đời Lê Thái Tông. Ngay năm đó, đợt bia đầu tiên đã được dựng.
Mỗi tấm bia không chỉ có danh sách tên. Bài ký khắc bằng chữ Hán ghi năm mở khoa, cách tổ chức thi, các quan chấm thi, tên người đỗ kèm quê quán. Phần lớn bia còn có một đoạn văn bàn về lý do nhà nước trọng người học. Nổi tiếng nhất là bài ký trên bia khoa 1442 do Thân Nhân Trung soạn:
“Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu rồi xuống thấp.”
Học sinh Việt Nam nào cũng gặp câu này trên ghế nhà trường, và ngày nay nó còn xuất hiện trên băng rôn các lễ tốt nghiệp. Nhưng ở bối cảnh ban đầu, câu văn ấy mang ý nghĩa chính trị chứ không chỉ là lời răn đạo đức. Một vương triều vừa đuổi quân Minh (1428) đang tuyên bố công khai, và khắc hẳn vào đá, rằng đất nước sẽ được cai trị bởi những người chọn ra từ thực tài.
Khắc bia theo từng đợt
Bia không được thêm đều đặn sau mỗi khoa thi. Chúng được dựng theo từng đợt, và các đợt ấy phản ánh những biến động của đất nước:
- Từ 1484 đến khoảng thập niên 1530: nhóm bia thời Lê sơ. Bia nhỏ, trang trí giản dị, rùa thon và thanh. Trong nhóm này có một tấm ghi khoa thi dưới triều Mạc, triều đại lên ngôi năm 1527.
- Năm 1653: sau nhiều thập kỷ nội chiến Lê – Mạc, triều Lê trung hưng cho khắc một loạt bia cùng lúc. Đây là đợt dựng bù để đưa các khoa thi còn thiếu trở lại sử sách. Giới nghiên cứu di sản đánh giá nhóm bia này có trang trí đẹp nhất.
- Từ năm 1717 trở đi: thêm một đợt dựng lớn, sau đó bổ sung đều. Tấm bia cuối cùng được dựng năm 1780, ghi khoa thi năm 1779.
Hình dáng rùa đổi theo từng thời kỳ. Rùa thời đầu gầy, cổ dài. Rùa thời sau to, tròn, mắt lồi, mai dày. Các nhà nghiên cứu mỹ thuật dựa vào những khác biệt này, cùng hoa văn trên trán bia, để xác định niên đại.
Tổng cộng, các tấm bia ghi danh khoảng 1.300 tiến sĩ (tùy nguồn, từ 1.304 đến 1.307 người). Trong đó có những tên tuổi quen thuộc như sử gia Ngô Sĩ Liên và nhà bác học thế kỷ XVIII Lê Quý Đôn. Không phải khoa thi nào trong khoảng thời gian ấy cũng còn bia. Có khoa có lẽ chưa từng được dựng bia, có bia đã thất lạc. Vì vậy 82 tấm hiện nay là phần còn lại chứ không phải một bộ đầy đủ.
Vì sao lại là rùa?
Rùa là một trong tứ linh (long, lân, quy, phụng) của văn hóa Việt Nam và Đông Á, tượng trưng cho sự trường tồn. Đặt tên người đỗ lên lưng rùa là cách nói rằng vinh danh ấy sẽ còn mãi. Dân gian còn có tục sĩ tử xoa đầu rùa để lấy may trước mùa thi. Đây là tục lệ dân gian, không phải nghi lễ có từ lịch sử. Xoa mãi thì đá mòn, nên ngày nay các tấm bia được rào lại. Du khách chỉ được ngắm, không được chạm.
Khi kinh đô dời đi
Nhà Nguyễn dời kinh đô vào Huế năm 1802, và Quốc Tử Giám cũng chuyển vào đó năm 1803. Từ sau năm 1780, không có thêm tấm bia nào ở Hà Nội, nên bộ bia dừng lại ở thời Lê. Khoa cử Nho học vẫn tiếp tục ở Huế cho đến khi bị bãi bỏ năm 1919.
Năm 2010, UNESCO đưa 82 bia tiến sĩ vào danh mục Di sản tư liệu thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Năm 2011, bộ bia được đưa vào danh mục Di sản tư liệu thế giới. UNESCO công nhận chúng là tư liệu chứ không phải công trình kiến trúc: đó là kho hồ sơ về cách một nhà nước chọn người làm quan, được giữ trong đá vì đá được kỳ vọng sẽ bền lâu hơn mọi thứ khác.
Đó cũng là lý do bộ bia vẫn còn ý nghĩa hôm nay. Mỗi mùa thi, học sinh vẫn đến Văn Miếu thắp hương, dù không còn được xoa đầu rùa. Những tấm bia ghi lại một ý tưởng giản dị mà một vị vua thế kỷ XV thấy đáng khắc vào đá: người tài phải được ghi nhận, ghi chép và nhớ đến bằng chính tên của mình.
Nguồn
- Stone Stele Records of Royal Examinations of the Lê and Mạc Dynasties (1442–1779) — UNESCO Memory of the World
- Temple of Literature, Hanoi — Wikipedia
- Bia Đề danh tiến sĩ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám — Cục Di sản văn hóa
- Bia Tiến sĩ Văn Miếu — Di sản tư liệu thế giới — Người Việt Nam, TTXVN
- Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long — Wikipedia tiếng Việt
Ảnh bìa: Bia tiến sĩ trên lưng rùa, Văn Miếu, Hà Nội, thế kỷ XV–XVIII — tác giả Richard Mortel, giấy phép CC BY 2.0, qua Wikimedia Commons.
