Rằm tháng Tám năm nào cũng giống nhau: tiếng trống ếch đi trước, cái đầu lân bằng giấy bồi nhấp nhô, rồi một hàng trẻ con cầm đèn ông sao. Ngày xưa trong đèn là ngọn nến, bây giờ phần nhiều là bóng đèn pin. Bố mẹ lẽo đẽo theo sau, một tay cầm điện thoại, tay kia cầm nến dự phòng. Tối muộn là bánh nướng với chè, và kiểu gì cũng có một bà nội chỉ lên vầng trăng: “Kia là chú Cuội ngồi gốc cây đa.”
Người Trung Quốc ăn Tết Trung thu để đoàn viên, người Hàn đón Chuseok để về quê tảo mộ. Riêng người Việt dần biến nó thành ngày của trẻ con. Nhưng con đường đến đó dài hơn nhiều người nghĩ.
Nguồn gốc: vẫn còn tranh cãi
Không ai dám nói chắc Tết Trung thu bắt đầu từ đâu. Quan điểm phổ biến cho rằng tục ngắm trăng rằm tháng Tám đi vào nước ta từ Trung Quốc, nơi nó thịnh lên từ đời Đường. Một số nhà nghiên cứu lại tin đây là lễ hội gốc của cư dân lúa nước đồng bằng sông Hồng, dẫn chứng bằng những cảnh hội hè khắc trên trống đồng Đông Sơn. Đó là giả thuyết đáng nghe, nhưng chưa phải kết luận: trống đồng có cảnh lễ hội, còn đó có phải hội trăng rằm hay không thì chưa ai chứng minh được.
Phần có thể ghi chép được là chuyện cung đình. Theo trưng bày của Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long, từ thời Lý Trung thu đã là một lễ lớn: nhà vua làm lễ tế, xem đua thuyền, xem múa rối nước, múa rối cạn. Sang thời Trần, quý tộc uống rượu, ngâm thơ, dạo chơi dưới trăng. Thời Lê – Trịnh, phủ chúa Trịnh treo đèn kết hoa cầu kỳ. Ai từng học “Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh” hẳn còn nhớ cách Phạm Đình Hổ (1768–1839) trong Vũ trung tùy bút kể lại những cuộc chơi đèn Trung thu xa xỉ trong phủ, như một bằng chứng cho thói hưởng lạc của chúa.
Trăng của nhà nông
Ở làng quê, trăng rằm tháng Tám còn là để đoán mùa. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục ghi rằng người thế kỷ 19 ban ngày làm cỗ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng trăng. Câu “Muốn ăn lúa tháng Năm, trông trăng rằm tháng Tám” vẫn còn đó. Dân gian tin rằng trăng trong, vàng thì được tằm, trăng đục thì được lúa, còn trăng ngả màu xanh là điềm có bão. Những điều này là kinh nghiệm dân gian chứ không phải thiên văn, nhưng chúng cho thấy rằm tháng Tám từng là chuyện mùa màng trước khi thành chuyện của trẻ con.
Chú Cuội, chị Hằng
Truyện chú Cuội thì đứa trẻ Việt nào cũng thuộc: cây đa thần có lá cải tử hoàn sinh, lời dặn không được tưới nước bẩn, rồi một hôm cây bị tưới nước bẩn (mỗi bản kể một người làm) và bật gốc bay lên trời. Cuội níu rễ cây, bị kéo lên cung trăng và ngồi đó đến giờ. Chị Hằng thì vốn là Hằng Nga trong truyền thuyết Trung Hoa. Còn Cuội là nhân vật rất Việt: nói dối có tiếng, đôi khi ngờ nghệch, và bản nào cũng cô đơn. Đây là truyền thuyết, nhưng là cái cớ để bao thế hệ ngước nhìn trăng.
Những thứ làm nên đêm rằm
Đèn. Đèn ông sao là biểu tượng: năm cánh nan tre, bọc giấy bóng kính đỏ, đầu cánh có tua. Đèn kéo quân thì kỳ công hơn: hơi nóng của ngọn nến làm lồng trong xoay, in bóng đoàn người ngựa chạy vòng lên vách giấy. Sau này hình người ngựa được thay bằng cảnh ông Trạng vinh quy. Vài làng vẫn còn làm đèn kéo quân bằng tay, như Đàn Viên (Hà Nội) và Mật Sơn (Thanh Hoá). Ngoài ra còn đèn cá chép, đèn thỏ, đèn lồng lụa Hội An. Trong Nam, xóm lồng đèn Phú Bình ở Sài Gòn những năm 1960–1975 mỗi mùa làm ra hơn nửa triệu chiếc.
Đồ chơi. Mặt nạ giấy bồi, tò he, trống bỏi, và thời Nguyễn có cả ông Tiến sĩ giấy, món quà kèm lời nhắn con trẻ chăm học. Thời bao cấp, nhà nào ở miền Bắc cũng tự vót nan, dán giấy làm đèn cho con. Nhiều người U50, U60 bây giờ vẫn nhớ mùi hồ dán và giấy bóng kính.
Mâm cỗ. Trung tâm mâm cỗ Trung thu kiểu Bắc không phải bánh mà là con chó xếp bằng múi bưởi, hai hạt đậu đen làm mắt, xung quanh bày hoa quả, bánh nướng, bánh dẻo. Trăng lên cao thì trẻ con phá cỗ.
Khi Trung thu thành Tết thiếu nhi
Không có một ngày cụ thể nào đánh dấu sự chuyển đổi, nhưng có một cột mốc dễ nhớ. Ngày 17/9/1945, chỉ hai tuần sau ngày Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư Trung thu gửi “các trẻ em yêu quý”: “Hôm nay là Tết Trung thu. Mẹ đã sắm cho các em nào đèn, nào trống, nào pháo, nào hoa…”. Những năm sau Người còn viết nhiều thư Trung thu nữa: 1948, 1949, những năm kháng chiến, rồi năm 1954, mùa “Trung thu hòa bình đầu tiên”. Khổ thơ cuối bức thư năm 1952 về sau thành lời bài Đội ca. Nhà trường và Đội Thiếu niên đứng ra tổ chức rước đèn, và Trung thu từ đó thuộc hẳn về trẻ em.
Trung thu bây giờ
Ở Hà Nội, phố Hàng Mã đỏ rực từ đầu tháng Tám âm lịch và đông đến mức khó lách chân. Đèn ông sao vẫn bán chạy nhất, mặt nạ giấy bồi và tò he vẫn có người tìm mua. Ở Tuyên Quang, Lễ hội Thành Tuyên đi lên từ những chiếc đèn khổng lồ do từng tổ dân phố tự làm, nay là cuộc rước đèn Trung thu lớn nhất cả nước. Nhãn hiệu “Thành Tuyên Festival” được bảo hộ năm 2024, và mùa năm 2026 diễn ra từ 19 đến 25/9. Phan Thiết (nay thuộc Lâm Đồng sau đợt sáp nhập 2025) cũng có lễ rước đèn của học sinh, từng xác lập kỷ lục quốc gia về quy mô.
Người hoài cổ có lý khi than rằng những hộp bánh trung thu biếu tặng đắt tiền đã biến cái Tết này thành chuyện quà cáp. Nhưng cứ ra ngõ vào đêm rằm mà xem: vẫn là đứa trẻ, cái đèn ông sao, ngọn nến, và vầng trăng có chú Cuội ngồi.
Nguồn
- Tết Trung thu — Trưng bày trực tuyến Hoàng thành Thăng Long
- Tết Trung thu — Wikipedia tiếng Việt (dẫn Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục) và Wikipedia tiếng Anh
- Time to bring back those lanterns and moon cakes for kids — VOV
- Đọc lại những bức thư Trung thu của Bác Hồ — Nhân Dân
- From lantern parade to national cultural brand — Việt Nam News
- Đồ chơi Trung thu “made in Việt Nam” lên ngôi ở phố Hàng Mã — Thanh Tra
Ảnh bìa: trẻ em rước đèn ông sao dịp Tết Trung thu, tác giả Viethavvh, phạm vi công cộng, qua Wikimedia Commons.
