Thông tư 63/2026/TT-BCT: từ 15/11/2026, cơ sở thực phẩm ngành Công Thương phải cung cấp hồ sơ truy xuất nguồn gốc trong 24 giờ; Bộ bỏ mã truy xuất và lộ trình kết nối bắt buộc, chuyển sang xây dựng cơ sở dữ liệu thực phẩm

Chiều 24/10/2026, thảo luận ở tổ về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh Quốc hội “không thể thông qua một đạo luật mà ‘phần vỏ’ nằm trong Luật, còn ‘phần ruột’ của chính sách lại chờ nghị định, thông tư”, và nhắc lại bài học phải tạm dừng hiệu lực Nghị định 46/2026/NĐ-CP khi văn bản này còn rất mới. Mười một ngày nữa, ngày 15/11/2026, hệ quả rõ nhất của việc tạm dừng đó ở cấp thông tư mới được thay thế. Thông tư 63/2026/TT-BCT của Bộ Công Thương có hiệu lực và thay thế Thông tư 11/2026/TT-BCT, văn bản về truy xuất nguồn gốc thực phẩm được ký tháng 2, tạm ngưng tháng 4, tạm ngưng tiếp tháng 7 và tạm ngưng lần thứ ba đúng ngày văn bản thay thế được ký. Chưa một điều khoản nào của nó từng được áp dụng với bất kỳ ai.

Văn bản là gì

Thông tư 63/2026/TT-BCT, Quy định về cơ sở dữ liệu thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, được Thứ trưởng Trương Thanh Hoài ký thay Bộ trưởng tại Hà Nội ngày 30/9/2026, theo đề nghị của Cục trưởng Cục Công nghiệp. Thông tư gồm 5 chương, 19 điều và một phụ lục là mẫu báo cáo kết quả truy xuất nguồn gốc. Văn bản có hiệu lực từ 15/11/2026 và theo Điều 19, thay thế toàn bộ Thông tư 11/2026/TT-BCT ngày 27/02/2026.

Ngay tên gọi đã cho thấy đối tượng điều chỉnh đổi khác. Thông tư tháng 2 quy định về truy xuất nguồn gốc thực phẩm và hệ thống thông tin phục vụ việc đó. Thông tư mới quy định về một cơ sở dữ liệu: Bộ tạo lập, quản lý, cập nhật, kết nối, chia sẻ và khai thác cơ sở dữ liệu thực phẩm như một hợp phần của cơ sở dữ liệu ngành Công Thương. Truy xuất nguồn gốc còn lại ở Chương III, với ba điều về hồ sơ cơ sở phải lưu, lưu bao lâu và phải làm gì khi sản phẩm không bảo đảm an toàn.

Căn cứ pháp lý cũng đã dịch chuyển. Thông tư 11 được xây dựng trên Nghị định 46/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm. Thông tư 63 không viện dẫn hai văn bản đó làm căn cứ. Nó dựa trên Luật An toàn thực phẩm 55/2010/QH12 và nghị định hướng dẫn cũ là Nghị định 15/2018/NĐ-CP, được duy trì hiệu lực bởi Nghị quyết 15/2026/NQ-CP, rồi đến khung pháp luật về dữ liệu chưa tồn tại khi Nghị định 15 ra đời: Luật Dữ liệu 60/2024/QH15 và Nghị định 165/2025/NĐ-CP, Nghị định 278/2025/NĐ-CP về kết nối, chia sẻ dữ liệu bắt buộc giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, Luật Chuyển đổi số 148/2025/QH15 và Nghị định 224/2026/NĐ-CP, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 được sửa đổi bởi Luật 78/2025/QH15 cùng Nghị định 37/2026/NĐ-CP. Thông tư cũng viện dẫn Nghị định 351/2026/NĐ-CP, văn bản quy định lại chức năng, nhiệm vụ của chính Bộ Công Thương.

Thông tư đầu tiên đã “chết” như thế nào

Chuỗi sự kiện đáng được kể lại, vì nó giải thích vì sao văn bản mới có hình hài như hiện nay.

  • Ngày 26 và 27/01/2026. Chính phủ ban hành Nghị định 46/2026/NĐ-CP, nghị định hướng dẫn mới của Luật An toàn thực phẩm, và Nghị quyết 66.13/2026/NQ-CP về công bố, đăng ký sản phẩm thực phẩm.
  • Ngày 04/02/2026. Nghị quyết 09/2026/NQ-CP tạm ngưng hiệu lực cả hai văn bản đến hết ngày 15/4/2026, sau khi báo chí phản ánh thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm ùn ứ tại cảng.
  • Ngày 27/02/2026. Bộ Công Thương ký Thông tư 11/2026/TT-BCT, hiệu lực từ 16/4/2026, xây dựng trên nghị định đang bị tạm ngưng.
  • Ngày 06/4/2026. Nghị quyết 15/2026/NQ-CP thay thế nghị quyết tháng 2, tạm ngưng Nghị định 46 và Nghị quyết 66.13 không thời hạn, cho đến khi Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) và nghị định hướng dẫn có hiệu lực. Trong thời gian đó, Nghị định 15/2018 tiếp tục áp dụng.
  • Ngày 15/4/2026. Một ngày trước khi Thông tư 11 có hiệu lực, Quyết định 906/QĐ-BCT tạm ngưng văn bản này đến ngày 01/7/2026 và giao Cục Công nghiệp xây dựng thông tư thay thế theo trình tự rút gọn trong tháng 6.
  • Ngày 01/7/2026. Quyết định 1611/QĐ-BCT do Thứ trưởng Trương Thanh Hoài ký kéo dài thời gian tạm ngưng đến hết ngày 30/9/2026, lùi hạn soạn thảo sang quý III.
  • Từ 22/8 đến 21/9/2026. Cục Công nghiệp đăng tải dự thảo thông tư thay thế để lấy ý kiến, kèm bảng so sánh với Thông tư 11.
  • Ngày 30/9/2026. Quyết định 2468/QĐ-BCT tạm ngưng Thông tư 11 “đến khi Thông tư thay thế có hiệu lực thi hành”, áp dụng từ 01/10. Cùng ngày, cũng Thứ trưởng đó ký Thông tư 63.

Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) được Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan trình Quốc hội ngày 24/10/2026, với dự thảo gồm 9 chương, 74 điều, thay thế hoàn toàn luật năm 2010. Dự án nằm trong danh sách 39 luật dự kiến được thông qua tại Kỳ họp thứ 2, diễn ra từ 17/10 đến 21/11/2026. Như vậy Bộ viết thông tư mới trên nền luật cũ trong khi luật mới chỉ còn cách vài tuần, và Điều 19 Thông tư 63 có điều khoản quen thuộc: văn bản được viện dẫn nếu được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì áp dụng theo văn bản mới.

Thay đổi so với Thông tư 11

Nói ngắn gọn: Bộ đã bỏ những phần đòi hỏi chính Bộ phải xây dựng và vận hành, và giữ lại những phần đòi hỏi doanh nghiệp phải lưu hồ sơ.

Bỏ.

  • Hệ thống truy xuất nguồn gốc thực phẩm riêng của Bộ và Cổng thông tin truy xuất công khai, mà Thông tư 11 định nghĩa là điểm truy cập tập trung duy nhất cho hoạt động truy xuất nguồn gốc thực phẩm.
  • Mã truy xuất nguồn gốc thực phẩm do Bộ cấp, cùng các quy định về vật mang dữ liệu: mã QR, mã vạch, RFID, NFC phải in theo mẫu do Bộ thiết kế, phát hành, được Hệ thống truy xuất xác nhận, kích hoạt, và doanh nghiệp sản xuất vật mang dữ liệu phải báo cáo số lượng đã cung cấp.
  • Nghĩa vụ cập nhật mọi sự kiện truy xuất lên hệ thống của Bộ trong vòng 24 giờ kể từ khi sự kiện diễn ra.
  • Lộ trình kết nối bắt buộc tại Điều 15 Thông tư 11: cơ sở sản xuất thực phẩm từ 01/12/2026, cơ sở nhập khẩu từ 01/3/2027, trừ cơ sở nhỏ lẻ.
  • Chương về người tiêu dùng, theo đó bất kỳ ai cũng được tra cứu miễn phí thông tin cơ bản của sản phẩm trên Cổng thông tin truy xuất và phản ánh thực phẩm nghi ngờ qua đó, cùng gói hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo và ưu tiên xét duyệt chương trình khuyến công cho cơ sở kết nối sớm.

Giữ, gần như nguyên văn.

  • Nguyên tắc một bước trước, một bước sau: mỗi cơ sở phải nhận diện được công đoạn trước và công đoạn kế tiếp trong chuỗi.
  • Danh mục hồ sơ cơ sở sản xuất phải lưu theo lô, mẻ: tên và hình ảnh sản phẩm, thương hiệu, số sê-ri, quy cách đóng gói và thành phần, hạn sử dụng, tiêu chuẩn áp dụng và bản công bố hợp quy, số lượng đã sản xuất, đã bán, địa điểm và thời gian từng sự kiện theo dõi trọng yếu, tên, địa chỉ và mã số doanh nghiệp của khách hàng, nhà phân phối, đơn vị vận chuyển, kho và nhà cung cấp nguyên liệu kèm hợp đồng, hóa đơn, thông tin lô nguyên liệu và kết quả kiểm nghiệm, kết quả kiểm nghiệm lô thành phẩm.
  • Thời hạn lưu trữ tối thiểu 12 tháng kể từ ngày hết hạn sử dụng với sản phẩm có hạn sử dụng, hoặc 60 tháng kể từ ngày sản xuất với sản phẩm không bắt buộc ghi hạn sử dụng.
  • Nghĩa vụ cung cấp hồ sơ trong vòng 24 giờ kể từ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu.
  • Quy trình truy xuất từng bước khi sản phẩm bị phát hiện hoặc nghi ngờ không bảo đảm an toàn: xác định lô, rà soát hồ sơ sản xuất và kiểm nghiệm, liên hệ nhà cung cấp nguyên liệu, bao bì, gửi thông báo khẩn cấp đến nhà phân phối yêu cầu báo cáo số lượng đã bán và tồn kho, xác định nguyên nhân, lập báo cáo theo mẫu tại phụ lục. Việc thu hồi vẫn theo Chương IV Thông tư 43/2018/TT-BCT.

Mới.

  • Sự kiện theo dõi trọng yếu và thời gian diễn ra được neo vào tiêu chuẩn: TCVN 12850:2020 hoặc tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc toàn cầu của GS1 (Điều 4).
  • Bản thân cơ sở dữ liệu: tám nhóm dữ liệu liệt kê tại Điều 6, từ cơ sở sản xuất, kinh doanh và sản phẩm đến kết quả kiểm tra, cảnh báo, thu hồi, tiêu chuẩn và dữ liệu truy xuất nguồn gốc, xây dựng theo Khung kiến trúc dữ liệu của Bộ và của quốc gia; Bộ trưởng sẽ ban hành riêng danh mục, cấu trúc và mô tả dữ liệu.
  • Dữ liệu trước hết lấy từ hồ sơ của chính Nhà nước. Điều 5 và Điều 8 quy định cơ sở dữ liệu được tạo lập từ hồ sơ hình thành trong giải quyết thủ tục hành chính và chế độ báo cáo, từ kết nối với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia và các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành, và chỉ sau đó mới đến dữ liệu do tổ chức, cá nhân cung cấp. Hồ sơ giấy phải được số hóa. Điều 13 bổ sung: khi dữ liệu có sẵn đã đủ để truy xuất, cơ quan nhà nước phải dùng dữ liệu đó và không yêu cầu doanh nghiệp cung cấp lại, trừ trường hợp cần kiểm tra, xác minh.
  • Việc doanh nghiệp kết nối là khuyến khích, không bắt buộc. Khoản 4 Điều 17 dùng từ khuyến khích. Ngoại lệ cứng duy nhất là khoản 5: cơ sở có sản phẩm thuộc Danh mục hàng hóa rủi ro cao của Bộ phải truy xuất nguồn gốc và cung cấp thông tin lên Hệ thống cơ sở dữ liệu truy xuất nguồn gốc hàng hóa rủi ro cao. Đó là cơ chế VeriGoods theo Thông tư 31/2026/TT-BCT, có hiệu lực từ 01/7/2026, đã xác thực hơn 1 triệu mã sản phẩm tính đến hết tháng 5/2026 và yêu cầu truy xuất đầy đủ trước khi lưu thông với hàng rủi ro cao từ 01/01/2027.
  • Danh mục hồ sơ có thêm giấy chứng nhận GMP, HACCP, ISO 22000, IFS, BRC hoặc FSSC 22000 với cơ sở thuộc điểm k khoản 1 Điều 12 Nghị định 15/2018, cùng quy trình kiểm soát nội bộ nếu có. Với hàng nhập khẩu, hồ sơ nay phải có số tờ khai hải quan của từng lô và mã số doanh nghiệp của nhà nhập khẩu; chứng nhận xuất xứ hoặc kết quả kiểm nghiệm tại nước xuất xứ chỉ bắt buộc khi pháp luật quy định, thay vì mọi trường hợp như Thông tư 11.
  • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu và cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định có nghĩa vụ số hóa rõ ràng, kèm thứ tự ưu tiên với hồ sơ tồn đọng: giấy chứng nhận và quyết định chỉ định còn hiệu lực trước, rồi đến hồ sơ cơ sở đang hoạt động và sản phẩm đang lưu thông, hồ sơ xử phạt chưa thi hành xong, hồ sơ cảnh báo, thu hồi và truy xuất nguồn gốc.

Ai chịu tác động

Thông tư áp dụng với cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức đánh giá sự phù hợp và cơ quan kiểm tra nhà nước về thực phẩm nhập khẩu thuộc Bộ Công Thương, và với mọi tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ tại Việt Nam. Theo Nghị định 15/2018, phạm vi đó là danh mục quen thuộc: bia, rượu, cồn và đồ uống có cồn, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, bột và tinh bột, bánh, mứt, kẹo, cùng dụng cụ, vật liệu bao gói chứa đựng các loại thực phẩm này. Thực phẩm hộ gia đình tự làm để dùng không thuộc phạm vi. Thực phẩm xuất khẩu truy xuất theo quy định của nước nhập khẩu, nhưng sản phẩm vừa xuất khẩu vừa bán trong nước thì phải tuân thủ khi tiêu thụ tại Việt Nam.

So với Thông tư 11, hai nhóm mất đi một thứ. Người tiêu dùng mất quyền tra cứu miễn phí trên cổng thông tin và kênh phản ánh ở cấp thông tư; Thông tư 63 chỉ nói tổ chức, cá nhân được khai thác dữ liệu mở và dữ liệu công khai từ cơ sở dữ liệu. Cơ sở kết nối sớm mất gói hỗ trợ từng được hứa. Cơ sở sản xuất và nhập khẩu thì được thêm thời gian: hai mốc kết nối 01/12/2026 và 01/3/2027 không còn, và không có quy định nào trong văn bản mới buộc một doanh nghiệp ngoài danh mục rủi ro cao phải kết nối với bất kỳ hệ thống nào của Bộ.

Doanh nghiệp cần làm gì trước 15/11

  • Tổ chức hồ sơ theo lô, không theo loại giấy tờ. Đồng hồ 24 giờ chạy từ lúc cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Phép thử thực tế là một mã lô có thể biến thành bộ hồ sơ đầy đủ, từ nhà cung cấp nguyên liệu đến nhà phân phối, trong một ngày làm việc hay không.
  • Tính lại thời hạn lưu trữ. Mười hai tháng sau hạn sử dụng của đơn vị cuối cùng trong lô, hoặc năm năm kể từ ngày sản xuất với sản phẩm không bắt buộc ghi hạn, dài hơn chu kỳ lưu chứng từ vận chuyển của nhiều bộ phận kế toán.
  • Nhà nhập khẩu: ghi số tờ khai hải quan theo từng lô và mã số doanh nghiệp của nhà nhập khẩu, cùng thông tin liên hệ của nhà sản xuất, xuất khẩu, trong cùng bộ hồ sơ.
  • Đối chiếu danh mục rủi ro cao. Nếu sản phẩm thuộc danh mục hàng hóa rủi ro cao của Bộ, cách diễn đạt “khuyến khích” của Thông tư 63 không áp dụng; nghĩa vụ VeriGoods theo Thông tư 31 áp dụng, với mốc truy xuất đầy đủ trước khi lưu thông từ 01/01/2027.
  • Diễn tập quy trình. Sáu bước truy xuất và mẫu báo cáo tại phụ lục là thứ đoàn kiểm tra sẽ yêu cầu khi một lô bị cảnh báo. Cơ chế thu hồi vẫn theo Thông tư 43/2018.
  • Cử đầu mối. Điều 17 quy định cơ sở chịu trách nhiệm về tính kịp thời, hợp pháp, trung thực, chính xác của dữ liệu lưu trữ và chịu mọi chi phí truy xuất, thu hồi theo yêu cầu của cơ quan nhà nước.

Phía Nhà nước phải làm gì

Cục Công nghiệp chủ trì yêu cầu nghiệp vụ và đề xuất danh mục, cấu trúc dữ liệu; Cục Khoa học, Công nghệ và Chuyển đổi số chủ trì kiến trúc, hạ tầng và kết nối. Các tỉnh phải số hóa dữ liệu hình thành trong cấp phép, kiểm tra, xử phạt, thu hồi và bắt đầu xử lý hồ sơ tồn đọng theo thứ tự nêu trên. Cơ quan kiểm tra nhập khẩu và cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định phải cập nhật kết quả của mình. Kinh phí lấy từ ngân sách nhà nước cho khoa học công nghệ, công nghệ thông tin, chuyển đổi số và các nguồn hợp pháp khác. Cơ sở dữ liệu sẽ kết nối với Cơ sở dữ liệu tổng hợp quốc gia, các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành và Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa quốc gia mà Nghị định 372/2026/NĐ-CP đưa vào vận hành từ 01/01/2027, đã được phân tích trước đây.

Những câu hỏi còn bỏ ngỏ

  • Chưa có ngày vận hành. Nhiều nghĩa vụ, gồm thời hạn cập nhật của các tỉnh và việc số hóa hồ sơ tồn đọng, tính từ ngày cơ sở dữ liệu “chính thức vận hành”. Thông tư không nói đó là ngày nào, và danh mục dữ liệu theo Điều 6 chưa được ban hành.
  • Văn bản này sống được bao lâu. Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) dự kiến được thông qua trước 21/11/2026, và Nghị quyết 15/2026/NQ-CP chỉ chấm dứt việc tạm ngưng Nghị định 46 khi luật mới và nghị định hướng dẫn có hiệu lực. Một thông tư viết trên nền luật 2010 và Nghị định 15/2018 có thể phải viết lại lần thứ ba trong vòng một năm.
  • Ba hệ thống cho một chuỗi cung ứng. Cơ sở dữ liệu thực phẩm của Bộ, nền tảng VeriGoods cho hàng rủi ro cao và nền tảng quốc gia theo Nghị định 372 cùng chạm vào một loại sản phẩm. Thông tư 63 nói cơ sở dữ liệu kết nối với cổng quốc gia, nhưng không nói gì về quan hệ giữa dữ liệu doanh nghiệp khai trên VeriGoods và hồ sơ trong cơ sở dữ liệu thực phẩm.
  • Người dân được gì. Thông tư 11 hứa cho người tiêu dùng quyền tra cứu miễn phí và kênh phản ánh; Thông tư 63 chỉ nói đến dữ liệu mở một cách chung chung. Việc tra cứu của người tiêu dùng nay phụ thuộc vào VeriGoods và vào nền tảng quốc gia từ năm 2027.
  • Chế tài. Thông tư không có điều khoản xử phạt. Việc không cung cấp hồ sơ trong 24 giờ sẽ bị xử lý theo các quy định xử phạt chung về an toàn thực phẩm và dữ liệu mà văn bản không nêu cụ thể.

Nguồn

Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.