Hiện nay, quét mã QR trên một chai nước mắm hay một hộp thực phẩm chức năng, người mua có thể được đưa tới trang của nhà sản xuất, một dịch vụ truy xuất tư nhân, cổng thông tin của một bộ, hoặc không tới đâu cả. Nhà nước muốn thay tình trạng đó bằng một đầu mối chung để trả lời câu hỏi “hàng này có đúng như nhãn ghi không”. Ngày 29/9/2026, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng thay mặt Chính phủ ký Nghị định 372/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động định danh, xác thực, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa. Nghị định có hiệu lực từ 01/01/2027.
Nghị định quy định những gì
Nghị định 372/2026/NĐ-CP gồm 8 chương, 38 điều, kèm Phụ lục quy định về mã định danh sản phẩm, hàng hóa. Nghị định điều chỉnh bốn nhóm nội dung:
- Nền tảng quốc gia về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa;
- hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc trên môi trường số thông qua nền tảng này;
- việc xây dựng, quản lý, vận hành, kết nối, chia sẻ, khai thác nền tảng và Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa;
- quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Bộ Công an là cơ quan chủ trì soạn thảo, giao Trung tâm dữ liệu quốc gia thực hiện. Khi khởi động việc xây dựng nghị định vào tháng 10/2025, Bộ nhận định tình trạng hàng giả, gian lận thương mại còn rất phức tạp, trong khi hệ thống truy xuất nguồn gốc thì “phân tán giữa các bộ, ngành”. Dự thảo tháng 4/2026 có 40 điều; bản chính thức còn 38 điều.
Nghị định không thay thế quy định hiện hành về truy xuất nguồn gốc. Nghiệp vụ truy xuất vẫn thực hiện theo Nghị định 37/2026/NĐ-CP, văn bản quy định chi tiết Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, và pháp luật chuyên ngành. Phần Nghị định 372 bổ sung là lớp hạ tầng số dùng chung mà các quy định đó kết nối vào.
Những điểm mới chính
1. Mỗi sản phẩm hoặc lô hàng một mã UID. Trọng tâm của nghị định là mã UID, mã định danh do nền tảng quốc gia tạo lập tự động. Về pháp lý, mã UID là một đường dẫn (digital link) theo tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn GS1 quốc tế, có thể định danh tới từng đơn vị sản phẩm, từng lô, mẻ hoặc từng loại hàng. Mã được thể hiện trên vật mang dữ liệu (thực tế là mã QR hoặc tương tự) đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam. Mã UID không thay thế mã GTIN, mã số địa điểm toàn cầu GLN hay mã truy vết sản phẩm, mã truy vết địa điểm mà doanh nghiệp đã được cấp hợp pháp. Mỗi mã UID chỉ gắn với một sản phẩm hoặc một lô hàng và liên kết với một bản ghi dữ liệu chủ duy nhất trên nền tảng.
2. Mỗi chủ thể có danh tính số được mã hóa. Mã UID được liên kết tự động với mã định danh phi tập trung (DID) của tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm (Điều 6), với khóa bí mật, khóa công khai và chữ ký điện tử chuyên dùng (Điều 7), và với chứng chỉ số, bằng chứng số (Điều 8). Theo nghị định, mục tiêu là bảo đảm khả năng “xác thực và truy vết độc lập”: người kiểm tra không phải tin vào lời của chính bên đưa ra thông tin.
3. Bắt buộc với hàng rủi ro cao, tự nguyện với các loại hàng khác. Việc định danh và truy xuất được thực hiện theo lô, mẻ hoặc tới từng đơn vị sản phẩm, tùy mức độ rủi ro:
- Hàng hóa rủi ro cao: bắt buộc định danh, xác thực dữ liệu chủ và truy xuất nguồn gốc. Bộ quản lý ngành, lĩnh vực quyết định danh mục, lộ trình, phương thức theo lô hay theo từng đơn vị, các sự kiện trọng yếu và yêu cầu dữ liệu chuyên ngành. Nghị định yêu cầu các quyết định này phải khả thi, phù hợp năng lực doanh nghiệp và đặc thù từng ngành hàng.
- Hàng hóa rủi ro trung bình và thấp: khuyến khích tự nguyện tham gia.
- Hàng xuất khẩu: tự nguyện, trừ khi pháp luật chuyên ngành có quy định khác. Nhà nước khuyến khích doanh nghiệp chủ động áp dụng để đáp ứng yêu cầu của nước nhập khẩu.
- Không thuộc phạm vi điều chỉnh: hàng tạm nhập tái xuất, quá cảnh, chuyển khẩu, trung chuyển và hàng nhập khẩu gửi kho ngoại quan để xuất sang nước thứ ba. Quy định bắt buộc cũng không áp dụng với sản phẩm quốc phòng, an ninh, cơ yếu có yêu cầu bảo mật về nguồn gốc, xuất xứ.
4. Sự kiện trọng yếu được ghi nhận bằng chứng chỉ số. Mỗi sự kiện trọng yếu trong quá trình sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, lưu thông, tiêu dùng được ghi nhận bằng việc khởi tạo chứng chỉ số qua mã UID. Nghị định nêu ví dụ là thời điểm xuất hóa đơn và thời điểm cơ quan hải quan quyết định thông quan. Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm ở công đoạn nào phải bảo đảm khởi tạo chứng chỉ số cho công đoạn đó, trừ khi dữ liệu xác nhận kết thúc công đoạn đã được đồng bộ về Cơ sở dữ liệu quốc gia về sản phẩm, hàng hóa. Nếu thuê bên cung cấp dịch vụ khởi tạo chứng chỉ số, hai bên phải có thỏa thuận xác định rõ chủ thể thực hiện, phạm vi, trách nhiệm bảo đảm dữ liệu chính xác, đầy đủ và trách nhiệm pháp lý của mỗi bên.
5. Giấy chứng nhận được số hóa, có giá trị như bản chính. Chứng nhận chất lượng, giấy chứng nhận xuất xứ, chứng nhận hợp quy, hợp chuẩn và các giấy tờ khác gắn với hàng rủi ro cao sẽ được số hóa, xác thực và đồng bộ lên nền tảng theo lộ trình do cơ quan có thẩm quyền quy định. Chứng chỉ số đã khởi tạo trên nền tảng có giá trị sử dụng như bản chính. Các bộ phải ban hành danh mục giấy tờ cần khởi tạo chứng chỉ số, kèm lộ trình thực hiện.
6. Hóa đơn được đối chiếu với dữ liệu chủ. Tên hàng hóa trên hóa đơn vẫn ghi theo pháp luật về hóa đơn, chứng từ; mã UID được dùng để đối chiếu tên đó với dữ liệu chủ đã xác thực. Dữ liệu chủ được chuẩn hóa theo Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam và Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (mã HS). Dữ liệu truy xuất tối thiểu của mỗi sản phẩm theo khoản 5 Điều 23 Nghị định 37/2026/NĐ-CP.
Vì sao mốc 01/01/2027 đáng chú ý
Ngày hiệu lực của nghị định trùng với một mốc tuân thủ đã có sẵn. Thông tư 31/2026/TT-BCT của Bộ Công Thương (ban hành 11/6/2026, hiệu lực 01/7/2026) áp dụng bắt buộc truy xuất nguồn gốc với hàng rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ, qua hệ thống VeriGoods (verigoods.vn), theo hai giai đoạn. Từ 01/7/2026, thương nhân đăng ký tài khoản, nhận mã định danh và xác thực thông tin sản phẩm. Từ 01/01/2027, thương nhân phải thực hiện đầy đủ truy xuất nguồn gốc trước khi đưa hàng vào lưu thông. Như vậy, quy định về nền tảng quốc gia bắt đầu áp dụng đúng ngày giai đoạn 2 của Bộ Công Thương có hiệu lực.
Ai chịu tác động
Nghị định áp dụng với cơ quan nhà nước quản lý nền tảng và cơ sở dữ liệu; tổ chức, cá nhân sản xuất, chế biến, gia công, kinh doanh, phân phối, nhập khẩu, vận chuyển, lưu kho hàng hóa; tổ chức cung cấp dịch vụ xác thực điện tử đối với sản phẩm, hàng hóa; và mọi bên khai thác dữ liệu trên nền tảng. Trên thực tế:
- Nhà sản xuất, nhập khẩu hàng rủi ro cao cần chờ danh mục và lộ trình của từng bộ, đồng thời chuẩn bị tem mã UID, nhập dữ liệu chủ và khởi tạo chứng chỉ số tại các sự kiện trọng yếu.
- Nhà phân phối, bán lẻ phải bảo đảm chứng chỉ số cho các sự kiện thuộc công đoạn của mình, chẳng hạn khi xuất hóa đơn.
- Doanh nghiệp làm phần mềm truy xuất và in tem nhãn có thị trường rõ ràng hơn: hệ thống của họ phải kết nối được với nền tảng quốc gia, và hợp đồng với khách hàng phải phân định trách nhiệm về dữ liệu.
- Người tiêu dùng sẽ có một kênh tra cứu chính thống thay cho hàng chục trang QR riêng lẻ.
Những điểm còn bỏ ngỏ
- Chưa có toàn văn. Đến ngày 29/9/2026, nghị định chưa được đăng trên Cơ sở dữ liệu văn bản của Chính phủ. Bài viết dựa trên thông cáo chính thức của Báo Điện tử Chính phủ, nên các chi tiết như phụ lục, điều khoản chuyển tiếp hay phí dịch vụ cần được đối chiếu lại với bản ký.
- Hai hệ thống, một mốc thời gian. VeriGoods của Bộ Công Thương và nền tảng quốc gia cùng áp dụng với hàng rủi ro cao từ 01/01/2027. Thông cáo chưa nói hai hệ thống liên thông ra sao và doanh nghiệp có phải khai hai lần hay không. Nghị định có yêu cầu các bộ bảo đảm “không làm phát sinh thủ tục, nghĩa vụ kê khai nhiều lần”.
- Danh mục chưa có. Phạm vi bắt buộc phụ thuộc vào việc từng bộ ban hành danh mục hàng rủi ro cao, sự kiện trọng yếu và lộ trình. Trước khi có các văn bản này, chưa biết nghị định sẽ bao trùm tới đâu.
- Chi phí và quyền truy cập. Dự thảo tháng 4/2026 cho cơ quan nhà nước khai thác dữ liệu miễn phí, còn các đối tượng khác trả phí dịch vụ. Bản chính thức có giữ quy định này không thì chưa được công bố.
Nguồn
- Quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa (Nghị định 372/2026/NĐ-CP) — Báo Điện tử Chính phủ
- Quy định về truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa — Báo Quảng Ninh
- Xây dựng Nghị định quy định về hoạt động định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa — Bộ Công an
- Góp phần nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành, thống nhất dữ liệu (dự thảo 8 chương 40 điều) — Bộ Công an
- 9 điểm đáng chú ý về định danh, xác thực và truy xuất nguồn gốc (dự thảo) — LuatVietnam
- Từ 01/01/2027, hàng hóa rủi ro cao phải được truy xuất nguồn gốc trước khi lưu thông (Thông tư 31/2026/TT-BCT) — LuatVietnam
- Circular 31/2026/TT-BCT dated 11 June 2026 — LuatVietnam (English)
- Từ 1/7: Hàng hóa rủi ro cao bắt buộc truy xuất nguồn gốc qua VeriGoods — Báo Điện tử Chính phủ
Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.