Khi người dân nộp hồ sơ đăng ký kinh doanh, khai sinh hay xin giấy phép xây dựng trực tuyến, biểu mẫu trên Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID chỉ là “cửa trước”. Phía sau là Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, nơi cán bộ tiếp nhận, luân chuyển, ký số và trả kết quả. Lâu nay mỗi bộ, mỗi tỉnh tự xây hệ thống riêng và chất lượng rất không đồng đều. Một thông tư mới vừa đặt ra bộ chuẩn kỹ thuật chung cho tất cả.
Văn bản
- Số hiệu: Thông tư 60/2026/TT-BKHCN
- Cơ quan ban hành: Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ký, theo đề nghị của Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia
- Ngày ký: 13/10/2026
- Hiệu lực: 01/12/2026
- Căn cứ: Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15; Nghị định 224/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật; Nghị định 118/2025/NĐ-CP về cơ chế một cửa, một cửa liên thông; Nghị định 45/2020/NĐ-CP về thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử; Quyết định 29/2026/QĐ-TTg về Quy chế quản lý, vận hành, khai thác Cổng Dịch vụ công quốc gia
- Bố cục: 6 chương, 21 điều và 7 phụ lục. Phần “ruột” nằm ở các phụ lục: bảng 41 yêu cầu chức năng, cùng các yêu cầu về hiệu năng, an ninh mạng và yêu cầu khác.
- Thay thế: Thông tư 21/2023/TT-BTTTT (ký 31/12/2023, hiệu lực từ 05/4/2024) và Thông tư 11/2025/TT-BKHCN sửa đổi, bổ sung thông tư này
Thông tư được ký hai ngày trước Thông tư 61/2026/TT-BKHCN về cổng, trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước. Hai văn bản đi thành cặp: một bên lo phần thông tin, một bên lo phần giao dịch của Chính phủ số.
Những điểm thay đổi
1. Từ “hệ thống cấp bộ, cấp tỉnh” sang mô hình tập trung. Thông tư 21/2023 được viết cho các hệ thống cấp bộ và cấp tỉnh vận hành song song. Phụ lục I của thông tư mới mô tả một kiến trúc nhiều tầng. Trên cùng là Cổng Dịch vụ công quốc gia và Hệ thống điều phối giải quyết thủ tục hành chính. Bên dưới là Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính tập trung cấp bộ, giải quyết từng thủ tục thống nhất “từ trung ương đến địa phương”. Hệ thống của địa phương chỉ còn được cung cấp, giải quyết những dịch vụ công trực tuyến chưa được triển khai trên hệ thống tập trung cấp bộ và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Với các thủ tục còn lại, hệ thống địa phương chỉ đồng bộ dữ liệu để tra cứu, phục vụ quản lý. Bốn hệ thống đặc thù được vận hành theo ngành dọc nhưng vẫn phải chia sẻ trạng thái và kết quả hồ sơ với Cổng: của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính (Cổng thông tin Một cửa quốc gia).
2. VNeID là “cửa vào” cho cả người dân lẫn cán bộ. Người dân đăng nhập Cổng Dịch vụ công quốc gia qua VNeID. Cán bộ ở bộ phận một cửa cũng đăng nhập Hệ thống điều phối bằng tài khoản VNeID, rồi được chuyển thẳng vào màn hình tiếp nhận của hệ thống cấp bộ theo đúng phân quyền. Hệ thống của bộ, ngành còn phải cho cán bộ cấp tỉnh, cấp xã đăng nhập một lần (SSO) vào hệ thống cấp bộ và các phần mềm chuyên ngành liên quan.
3. Nguyên tắc “không bắt khai lại” thành yêu cầu kỹ thuật. Điều 5 cấm hệ thống yêu cầu cá nhân, tổ chức cung cấp hoặc khai báo lại thông tin mà cơ quan nhà nước đã có hoặc khai thác được từ cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành. Bảng chức năng cụ thể hóa điều này. Biểu mẫu điện tử tương tác phải cho chọn hoặc tra cứu với dữ liệu đã có trong các cơ sở dữ liệu đã kết nối. Giấy tờ số hóa phải được bóc tách tối thiểu chín trường dữ liệu được nêu tên, gồm mã loại giấy tờ, mã định danh của tổ chức, cá nhân, cơ quan cấp và thời hạn hiệu lực. Mỗi người dân, doanh nghiệp có Kho quản lý dữ liệu điện tử, và hệ thống cấp bộ, cấp tỉnh phải tái sử dụng giấy tờ trong kho của mình trước khi truy vấn sang kho của Cổng Dịch vụ công quốc gia.
4. Chỉ tiêu định lượng rõ ràng. Phụ lục IV quy định hiệu năng tải trang, đo trên đường truyền tối thiểu 100 Mbps: hiển thị nội dung đầu tiên dưới 3 giây, nội dung lớn nhất dưới 4 giây, tốc độ tải nội dung dưới 5,8 giây, tổng thời gian chặn dưới 0,6 giây. Thời gian phản hồi trung bình phải dưới 2,5 giây cho mỗi luồng công việc chính, nhưng chỉ tiêu này không áp dụng cho thao tác phải chờ khai thác dữ liệu của cơ quan khác. Thời gian phản hồi chậm nhất phải dưới 10 giây. Phụ lục VI yêu cầu hoạt động 24/7 với tỷ lệ sẵn sàng tối thiểu 99,5% trong kỳ đánh giá (trừ thời gian bảo trì theo kế hoạch) và hỗ trợ IPv6. Phụ lục này cũng yêu cầu HTTPS với TLS 1.2 trở lên (khuyến nghị TLS 1.3), triển khai DNSSEC cho tên miền, giao diện ưu tiên thiết bị di động (mobile-first) và khả năng truy cập theo WCAG 2.2 mức A.
5. Tối thiểu cấp độ 3. Mọi hệ thống phải được xác định cấp độ an ninh mạng tối thiểu là cấp độ 3. Hệ thống phải được kiểm tra an ninh mạng theo hướng dẫn của Bộ Công an và tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân trong quản lý tài khoản, xác thực và chia sẻ dữ liệu.
6. AI vào danh mục, nhưng thận trọng. Mục 31 Phụ lục III yêu cầu cung cấp hoặc tích hợp trợ lý ảo hỗ trợ cán bộ, công chức giải quyết thủ tục. Mục 19 Phụ lục VI cho phép áp dụng OCR, trí tuệ nhân tạo hoặc giải pháp tương đương để tự động trích xuất, bóc tách dữ liệu từ hồ sơ, “phù hợp với nhu cầu nghiệp vụ và điều kiện triển khai của từng hệ thống”. Đây là quy định cho phép, không phải bắt buộc.
7. Đo từ bên ngoài, chấm Đạt/Không đạt. Hệ thống phải tích hợp mã nhúng của Hệ thống EMC, tức hệ thống giám sát, đo lường mức độ cung cấp và sử dụng dịch vụ Chính phủ số do Cục Chuyển đổi số quốc gia quản lý. Khi thay đổi mã giám sát, cấu hình hoặc mất kết nối, cơ quan chủ quản phải báo cho Cục trong 01 ngày làm việc. Chất lượng hệ thống được chấm Đạt hoặc Không đạt theo từng nhóm: giao diện, chức năng, hiệu năng, an ninh mạng và yêu cầu khác. Từng dịch vụ công trực tuyến được xác định mức độ phức tạp theo TCVN 14656:2026 về chất lượng trải nghiệm người dùng, làm cơ sở để cắt giảm thành phần hồ sơ. Cục Chuyển đổi số quốc gia kiểm tra, xếp hạng hằng năm và công bố kết quả trên EMC.
Đối tượng chịu tác động
Thông tư áp dụng cho bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã, ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao và đội ngũ cán bộ giải quyết thủ tục. Văn bản cũng nêu đích danh tổ chức, cá nhân cung cấp giải pháp, xây dựng, vận hành hệ thống và bên kết nối hệ thống khác vào đó. Với các doanh nghiệp công nghệ làm cho khu vực công, các phụ lục gần như là bộ tiêu chí kỹ thuật để đấu thầu.
Ý nghĩa thực tế
- Với nhà cung cấp giải pháp: hệ thống đang vận hành được tiếp tục áp dụng quy định của Thông tư 21/2023 và Thông tư 11/2025 đến khi nâng cấp xong, nhưng không quá 06 tháng kể từ ngày 01/12/2026, tức khoảng đầu tháng 6/2027. Cơ quan chủ quản phải rà soát và xây dựng lộ trình ngay. Hồ sơ mời thầu, hợp đồng lập sau ngày 01/12 nên dẫn chiếu các phụ lục mới.
- Với người dân, doanh nghiệp: về nguyên tắc sẽ phải gõ ít hơn và tải lên ít giấy tờ hơn. Thông báo tình trạng hồ sơ phải gửi qua tối thiểu ba kênh (Cổng Dịch vụ công quốc gia, VNeID và thư điện tử). Kết quả bản điện tử được lưu vào Kho dữ liệu để dùng lại cho lần sau.
- Với địa phương: không gian tự xây phần mềm giải quyết thủ tục thu hẹp lại, chỉ còn những thủ tục chưa được bộ, ngành triển khai tập trung.
Những câu hỏi còn bỏ ngỏ
- “Không bắt khai lại” có thành hiện thực? Điều này phụ thuộc vào độ đầy đủ của các cơ sở dữ liệu phía sau. Nguyên tắc đã có từ Nghị định 45/2020 nhưng người dân vẫn bị đề nghị nộp bản sao.
- “Mức độ phức tạp” được tính thế nào? Phương pháp nằm ở Phụ lục B của TCVN 14656:2026, không được chép vào thông tư. Danh sách phân loại mà Cục Chuyển đổi số quốc gia công bố mới là điều đáng xem.
- Sáu tháng là ngắn. Nhiều hệ thống cấp tỉnh vừa phải đáp ứng danh mục yêu cầu dài hơn, vừa phải nhường một phần phạm vi cho hệ thống tập trung cấp bộ.
Nguồn
- Bộ Khoa học và Công nghệ: toàn văn Thông tư 60/2026/TT-BKHCN (PDF)
- Bộ Khoa học và Công nghệ: danh mục văn bản pháp luật (Thông tư 60/2026/TT-BKHCN, 13/10/2026)
- Thư viện Pháp luật: Thông tư 60/2026/TT-BKHCN
- LuatVietnam: Thông tư 21/2023/TT-BTTTT (văn bản bị thay thế)
- Bộ Khoa học và Công nghệ: Thông tư 11/2025/TT-BKHCN (sửa đổi năm 2025)
Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.