Trong nhiều năm, một chiếc sạc điện thoại, một chiếc tivi hay một bộ khóa thông minh bày bán trong nước có thể ghi “Made in Vietnam”, nhưng không ai khẳng định được về mặt pháp lý rằng điều đó đúng hay sai. Việt Nam có quy tắc xuất xứ chi tiết cho hàng xuất khẩu, nhập khẩu, phục vụ các hiệp định thương mại tự do và thủ tục hải quan. Với hàng sản xuất và bán ngay trong nước thì chưa có tiêu chí nào. Khoảng trống này lộ rõ năm 2019, khi vụ Asanzo bị phát hiện bán hàng nhập từ Trung Quốc nhưng gắn nhãn Việt Nam. Khi đó, Bộ Công Thương thừa nhận không có tiêu chí pháp lý để đối chiếu.
Khoảng trống đó nay đã được lấp. Ngày 9/10/2026, thay mặt Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc ký ban hành Nghị định 384/2026/NĐ-CP quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất và lưu thông trong nước. Nghị định do Bộ trưởng Bộ Công Thương đề nghị và có hiệu lực từ 01/01/2027.
Văn bản gồm những gì
Nghị định ngắn gọn, gồm 12 điều và không chia chương. Căn cứ ban hành gồm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (19/2023/QH15), Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa (05/2007/QH12, được sửa đổi bởi Luật 78/2025/QH15) và Luật Thương mại. Đối tượng áp dụng là thương nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa lưu thông trong nước và các cơ quan quản lý có liên quan.
Phạm vi điều chỉnh được khoanh hẹp có chủ đích. Khoản 2 Điều 1 loại trừ ba nội dung:
- xác định xuất xứ để cấp giấy chứng nhận xuất xứ cho hàng xuất khẩu, nhập khẩu, vẫn theo pháp luật về quản lý ngoại thương;
- quy định về ghi nhãn và cách thể hiện nội dung bắt buộc trên nhãn;
- hoạt động truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa, do Nghị định 372/2026/NĐ-CP điều chỉnh. Nghị định này được ban hành trước đó vài ngày và cũng có hiệu lực từ 01/01/2027.
Hai cách để được công nhận xuất xứ Việt Nam
Xuất xứ thuần túy (Điều 5). Gồm cây trồng được trồng và thu hoạch tại Việt Nam; động vật sinh ra hoặc nuôi dưỡng tại Việt Nam và sản phẩm từ chúng; sản phẩm săn bắt, đánh bắt, nuôi trồng; khoáng sản khai thác từ đất, đáy biển Việt Nam; hải sản do tàu treo cờ Việt Nam đánh bắt ngoài biển cả; và phế liệu chỉ còn dùng để vứt bỏ hoặc tái chế.
Xuất xứ không thuần túy (Điều 6). Phần lớn hàng công nghiệp đều dùng nguyên liệu nhập khẩu, nên đây mới là tiêu chí quan trọng. Hàng hóa đạt xuất xứ Việt Nam nếu thỏa mãn một trong hai điều kiện:
- Chuyển đổi mã số hàng hóa: nguyên liệu không có xuất xứ phải thay đổi mã HS ở cấp 4 số (khoản 2 Điều 3). Ốc vít, tấm nền, chip đưa vào, thành phẩm ra phải mang một nhóm mã khác.
- Hàm lượng giá trị Việt Nam (VVC) tối thiểu 30%, tính theo một trong hai công thức:
- trực tiếp: VVC = trị giá nguyên liệu có xuất xứ ÷ giá xuất xưởng × 100%
- gián tiếp: VVC = (giá xuất xưởng − trị giá nguyên liệu không có xuất xứ) ÷ giá xuất xưởng × 100%
Thương nhân chọn một công thức và áp dụng trong cả năm tài chính (khoản 5). Trị giá bao bì cấu thành hàng hóa được tính vào VVC (khoản 3).
Điểm đáng chú ý với ngành công nghệ: chi phí phần mềm được tính
Khoản 4 Điều 6 là lý do nghị định này đáng được giới công nghệ quan tâm. Với hàng hóa thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin và công nghệ số, các công đoạn tạo ra giá trị sản phẩm thực hiện tại Việt Nam được tính vào VVC, gồm:
- chi phí nghiên cứu, phát triển;
- chi phí thiết kế, lập trình, số hóa, tự động hóa;
- chi phí thử nghiệm kỹ thuật và kiểm thử phần mềm gắn liền với quy trình tạo ra sản phẩm.
Khoản này cũng loại trừ hai giới hạn đối với nhóm hàng trên: danh mục gia công, chế biến đơn giản tại khoản 2 Điều 7 và các yếu tố không được xem xét tại Điều 8 không áp dụng. Như vậy, một doanh nghiệp Việt tự thiết kế thiết bị, tự viết firmware và kiểm thử trong nước, dù bo mạch được lắp từ linh kiện nhập khẩu, vẫn có thể đưa chi phí đội ngũ kỹ sư vào phần 30%. Nếu chỉ tính theo bảng kê nguyên vật liệu, phần giá trị này sẽ bị bỏ qua. Nghị định chưa định nghĩa thế nào là hàng hóa “công nghệ thông tin, công nghệ số”, nên các bộ có thể sẽ phải hướng dẫn thêm.
Những công đoạn không được tính
Gia công, chế biến đơn giản (Điều 7) không tạo ra xuất xứ. Đó là các công đoạn không cần kỹ năng chuyên môn, máy móc, dây chuyền hay thiết bị chuyên dụng. Nghị định liệt kê mười nhóm: bảo quản hàng trong vận chuyển, lưu kho; làm sạch bụi, gỉ, sơn; thay bao bì, chia nhỏ, đóng chai; dán nhãn, gắn nhãn hiệu, logo; phân loại, pha trộn đơn giản; lắp ráp đơn giản hoặc tháo rời sản phẩm; xay xát, đánh bóng ngũ cốc, tạo màu, đóng khối đường; mài, cắt, là phẳng đơn giản; kiểm tra, thử nghiệm đơn giản; giết mổ động vật. Mô hình “nhập về, bóc hộp, dán tem mình” từ nay không còn đủ cơ sở để ghi xuất xứ Việt Nam.
Yếu tố trung gian (Điều 8) như nhiên liệu, năng lượng, dụng cụ, khuôn mẫu, phụ tùng bảo dưỡng, dầu nhờn, đồ bảo hộ, thiết bị kiểm tra, chất xúc tác và dung môi không được đưa vào phép tính.
Ai chịu tác động, thay đổi gì trên thực tế
- Không phát sinh giấy phép mới. Nghị định không đặt ra thủ tục cấp chứng nhận. Doanh nghiệp tự xác định, tự thể hiện xuất xứ. Theo Điều 9, doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực của thông tin. Doanh nghiệp phải lưu hồ sơ chứng minh: hóa đơn đầu vào, bảng kê nguyên vật liệu, mô tả quy trình sản xuất và các tài liệu liên quan, đồng thời chứng minh xuất xứ khi cơ quan có thẩm quyền yêu cầu. Hồ sơ có thể lưu dưới dạng dữ liệu điện tử theo pháp luật kế toán và lưu trữ.
- Các thương hiệu tiêu dùng và nhà bán lẻ, nhất là hàng điện tử, gia dụng và các gian hàng thương mại điện tử quảng cáo “hàng Việt Nam”, nên rà soát từng dòng sản phẩm theo tiêu chí chuyển đổi mã số hoặc VVC 30% trước ngày 01/01/2027. Họ cũng cần lập sẵn hồ sơ giá thành đủ chặt để qua được thanh tra, kiểm tra.
- Startup phần cứng, IoT có thêm cơ sở hợp pháp để ghi xuất xứ Việt Nam dù phần lớn linh kiện nhập khẩu, với điều kiện hạch toán riêng chi phí R&D, firmware và kiểm thử cho từng sản phẩm.
- Doanh nghiệp xuất khẩu không được hưởng lợi gì thêm: hàng lưu thông trong nước rồi xuất khẩu vẫn phải tuân thủ quy định xuất xứ hàng xuất khẩu của Việt Nam và quy định của nước nhập khẩu.
- Quản lý nhà nước. Bộ Công Thương là đầu mối. Các bộ, cơ quan ngang bộ có thể ban hành quy định riêng cho mặt hàng có tính chất đặc thù (khoản 2 Điều 4, Điều 10). UBND cấp tỉnh kiểm tra trên địa bàn.
- Chuyển tiếp (Điều 12). Hàng hóa đã có nhãn thể hiện xuất xứ Việt Nam đúng quy định trước ngày 01/01/2027 được tiếp tục sử dụng nhãn đó đến khi hết hạn sử dụng.
Những điểm còn bỏ ngỏ
- Chế tài. Nghị định không quy định mức phạt. Việc xử lý sẽ dựa vào các quy định xử phạt hiện hành về bảo vệ người tiêu dùng, ghi nhãn, chất lượng hàng hóa. Hiện chưa rõ cơ quan kiểm tra sẽ xử lý thế nào với một tuyên bố xuất xứ không đạt ngưỡng 30%.
- Phạm vi khoản 4. Khái niệm “hàng hóa công nghệ thông tin, công nghệ số” chưa được định nghĩa. Một chiếc nồi cơm điện thông minh kết nối ứng dụng là trường hợp khó phân định.
- Quy định riêng theo ngành. Các bộ được ban hành tiêu chí riêng cho mặt hàng đặc thù, nên có thể xuất hiện nhiều ngưỡng khác nhau theo từng ngành.
- Liên thông với Nghị định 372. Tuyên bố xuất xứ và mã truy xuất UID cùng có hiệu lực một ngày nhưng thuộc hai chế độ pháp lý khác nhau. Doanh nghiệp sẽ cần hai hệ thống này khớp với nhau.
Nguồn
- LuatVietnam: Đã có Nghị định 384/2026/NĐ-CP về xác định xuất xứ hàng hóa Việt Nam
- LuatVietnam: toàn văn Nghị định 384/2026/NĐ-CP
- Tạp chí Công Thương: Chính thức: Quy định xác định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước
- VietnamPlus: Quy định xác định xuất xứ Việt Nam với hàng hóa sản xuất, lưu thông trong nước
- Báo Pháp luật: Từ 1/1/2027, hàng hóa được xác định xuất xứ Việt Nam theo tiêu chí nào?
- Báo Văn hóa: Đề xuất quy định tiêu chí xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước (9/6/2026)
- Tiền Phong: Từ vụ Khaisilk, Asanzo bán hàng Trung Quốc gắn mác Việt Nam, Bộ Công Thương nói ‘nỗi khổ’ khi chưa xử lý
Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.