Người nước ngoài đến Hà Nội thường được dẫn đi xem múa rối nước ngay tối đầu tiên, rồi ra về với câu hỏi quen thuộc: người điều khiển đứng ở đâu? Với người lớn lên ở đồng bằng Bắc Bộ, câu hỏi ấy chẳng quan trọng mấy. Múa rối nước là tiếng trống, tiếng pháo nổ trên mặt ao đình ngày hội, là chú Tễu cười toe toét bước ra chào làng. Nhưng thử nhìn kỹ lại một lần, ta sẽ thấy đây là một môn nghệ thuật tinh xảo hơn ta vẫn nghĩ.
Ao làng làm sân khấu
Sân khấu rối nước là một cái ao, thường là ao trước đình hay chùa. Giữa ao dựng thủy đình: một nhà thủy tạ mái ngói cong như đình làng thu nhỏ, mặt trước buông mành tre. Sau mành là buồng trò, nơi các nghệ nhân đứng ngâm mình dưới nước đến ngang lưng, suốt buổi diễn không để khán giả nhìn thấy.
Quân rối thường tạc bằng gỗ sung, loại gỗ nhẹ, dễ đục khi còn tươi, khô rồi thì bền và nổi. Một số phường dùng gỗ khác cũng nhẹ và chịu nước. Tạc xong, quân rối được phủ sơn ta để ngâm nước năm này qua năm khác vẫn không mục. Phần lớn cao chừng 30–40 cm, riêng Tễu và các cô Tiên thì to hơn hẳn.
Toàn bộ “phép màu” nằm dưới mặt nước. Máy sào là cây sào dài vài mét, đầu gắn quân rối, dọc thân có then và dây để giật tay, xoay đầu. Máy dây là hệ thống dây căng ngầm qua các cọc, kéo cho con rối lướt từ đầu này sang đầu kia ao như tự bơi. Nước ao đục không phải là nhược điểm. Chính nó giấu hết mọi bí mật.
Chín thế kỷ trên bia đá
Múa rối nước sinh ra từ văn minh lúa nước, trên những cánh đồng ngập và ao làng lúc nông nhàn. Dấu tích thành văn sớm nhất được biết đến là bia Sùng Thiện Diên Linh ở chùa Long Đọi (Đọi Sơn, vùng Hà Nam cũ), dựng năm 1121. Bia tả cảnh mừng thọ vua Lý Nhân Tông: rùa vàng nổi lên mặt sóng, đội trên lưng ba ngọn núi, tiên nữ múa trên mặt nước. Thời Lý, rối nước đã thành trò diễn chốn cung đình, tức là gốc dân gian của nó hẳn còn có từ lâu hơn.
Qua bao nhiêu triều đại, nghề sống chủ yếu nhờ các phường rối ở làng. Ngoài Hà Nội có phường Đào Thục (Đông Anh). Theo văn bia ở đình làng, tổ nghề là ông Nguyễn Đăng Vinh (tên thật Đào Đăng Khiêm), từng làm quan Nội giám dưới triều vua Lê Ý Tông, về quê truyền nghề cho dân làng. Ở Thái Bình có làng Nguyễn (Nguyên Xá) và Đông Các, vẫn được gọi là cái nôi của rối nước. Nghệ thuật múa rối nước Thái Bình được ghi danh Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018, rối nước Đào Thục năm 2023.
Giữ nghề hơn giữ của
Mỗi phường có ngón nghề riêng, giữ kín như bưng: làm sao cho rồng phun nước, cá quẫy đuôi, con rối đi được trên mặt nước. Các cụ trong làng rối vẫn kể về lời thề giữ nghề trước bàn thờ tổ. Lệ cũ chỉ truyền nghề cho con trai và con dâu, không truyền cho con gái, vì con gái đi lấy chồng làng khác thì mang theo cả bí quyết. Nghe thì thiệt cho con gái, nhưng nó cho thấy người làng xưa nghĩ về tri thức thế nào: nghề không phải của riêng ai, mà là của làng, do dòng họ gìn giữ.
Chú Tễu và các tích trò
Buổi diễn nào cũng mở đầu bằng chú Tễu: bụng phệ, cởi trần, đóng khố, để trái đào, lúc nào cũng cười. Tễu là người dẫn chuyện, cũng là anh hề được phép nói điều người thật không dám nói, như châm chọc quan tham, chế giễu kỳ hào. Mỗi phường có một chú Tễu riêng, và Tễu của Thái Bình hay Đào Thục thuộc hàng đẹp nhất.
Sau Tễu là cả đời sống làng quê bước lên mặt nước: cày bừa, cấy lúa, bắt ếch, đánh cá, chọi trâu, vật, bơi chải. Rồi đến tứ linh rồng, lân, rùa, phượng múa giữa những vòi nước và pháo hoa. Rồi các tích ai cũng thuộc như Thạch Sanh, Tấm Cám, Lê Lợi trả gươm cho rùa vàng hồ Gươm, dĩ nhiên là truyền thuyết chứ không phải chính sử. Đi kèm là dàn nhạc trống, thanh la, não bạt, sáo trúc, đàn bầu, cùng giọng hát chèo thay lời cho các quân rối.
Từ ao đình ra sân khấu phố
Rối nước mà du khách xem ở Hà Nội hôm nay phần lớn định hình trong thế kỷ 20. Nhà hát Múa rối Thăng Long khởi đầu năm 1969 là một đoàn nhỏ. Những năm 1980, nghệ sĩ của nhà hát về làng học trực tiếp các nghệ nhân phường rối, và từ đầu thập niên 1990 nhà hát đóng ở phố Đinh Tiên Hoàng bên hồ Hoàn Kiếm, đưa rối nước đi lưu diễn khắp thế giới. Rối nước phố thì gọn gàng, trau chuốt. Rối nước làng thì mộc hơn nhưng sống hơn: diễn ngoài trời, người xem đứng kín bờ ao, trẻ con nhón chân tìm xem nghệ nhân nấp ở đâu.
Có dịp thì nên xem cả hai. Vào nhà hát để thấy tay nghề. Rồi tìm về một hội làng, hoặc ra thủy đình ngoài trời của Bảo tàng Dân tộc học ở Hà Nội, để xem rối nước trong khung cảnh vốn sinh ra nó: mặt ao, trời rộng, và hồi trống báo cả làng sắp vào trò.
Nguồn
- Lịch sử múa rối nước — Nhà hát Múa rối Việt Nam
- Nghệ thuật múa rối nước (Thái Bình) — Cục Di sản văn hóa
- Múa rối nước Đào Thục — Sở Văn hóa và Thể thao Hà Nội
- Múa rối nước — Wikipedia tiếng Việt
- Water puppetry — Wikipedia
Ảnh bìa: phường rối nước Thanh Hải biểu diễn tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Hà Nội. Ảnh: Daderot, CC0 (phạm vi công cộng), qua Wikimedia Commons.
