Giữa đồng lúa xứ Thanh, cách Hà Nội chừng 150 km về phía nam, có một cổng thành bằng đá đứng trơ trọi. Cổng có ba vòm cửa, tường ghép từ những khối đá vôi lớn như những chiếc tủ: trung bình dài khoảng 2 mét, cao 1 mét, dày 0,7 mét, nhiều khối nặng trên mười tấn. Giữa các khối đá không hề có vữa. Chúng đã đứng vững như thế hơn 600 năm.
Đó là Thành nhà Hồ, xưa gọi là Tây Đô. Đây là một trong những công trình kỹ thuật thời trung đại ấn tượng nhất Đông Nam Á, đồng thời là chứng tích của một triều đại chỉ kéo dài bảy năm. Khoảng cách giữa hai sự thật ấy chính là câu chuyện.
Một quyền thần muốn dời đô
Cuối thế kỷ XIV, nhà Trần, triều đại từng ba lần đánh bại quân Nguyên Mông, đã suy kiệt. Quyền lực thực tế nằm trong tay Hồ Quý Ly (tên thật Lê Quý Ly, sinh năm 1336), một đại thần kiêm ngoại thích của hoàng tộc. Ông là người cải cách sắc sảo, quyết liệt và không mấy câu nệ, và ông muốn đưa triều đình rời khỏi Thăng Long, nơi thế lực quý tộc họ Trần bám rễ sâu.
Theo sử cũ, tháng Giêng năm 1397, Hồ Quý Ly sai Thượng thư bộ Lại Đỗ Tỉnh đi xem đất ở động An Tôn, Thanh Hóa, vùng quê gốc của họ Hồ, rồi đắp thành, đào hào, lập tông miếu, dựng đàn Xã Tắc. Sử chép tòa thành đá được hoàn thành chỉ trong khoảng ba tháng. Kinh đô mới được gọi là Tây Đô, còn Thăng Long đổi thành Đông Đô. Triều đình nhà Trần bị đưa vào Thanh Hóa, và những ngày cuối của vương triều này đã điểm.
Năm 1400, Hồ Quý Ly phế vị vua Trần cuối cùng, tự lên ngôi và đổi quốc hiệu thành Đại Ngu. Một năm sau, ông nhường ngôi cho con là Hồ Hán Thương nhưng vẫn nắm quyền với tư cách Thái thượng hoàng.
Tường thành được dựng thế nào
Thành nội có mặt bằng gần vuông, khoảng 870 × 883 mét, mỗi mặt trổ một cổng. Tường thành không đặc bằng đá. Cuộc khai quật đoạn tường phía đông bắc năm 2019 cho thấy lõi tường là đất đắp, mặt ngoài ốp đá vôi đẽo gọt chính xác đến mức các khối tự khóa vào nhau nhờ trọng lượng. Phần lớn tường cao 5–6 mét, chỗ cổng thành lên tới khoảng 10 mét.
Các cổng thành là phần tinh xảo nhất. Vòm cổng ghép từ những khối đá hình múi bưởi, cho phép vượt nhịp lớn mà không cần gỗ. Cổng Nam, cổng chính, có ba cửa, cửa giữa cao khoảng 8 mét. Bên ngoài thành đá còn có vòng La Thành đắp đất. Năm 1402, Hồ Hán Thương cho đắp đàn Nam Giao để tế trời dưới chân núi Đốn Sơn (núi Đún), cách thành khoảng 2,5 km về phía đông nam. Khảo cổ học đã làm lộ ra các cấp nền của đàn và một giếng ốp đá.
Khi UNESCO công nhận Thành nhà Hồ là Di sản Văn hóa Thế giới năm 2011, chính điều này được nhấn mạnh: việc dùng những khối đá khổng lồ là minh chứng cho sức tổ chức của một nhà nước Tân Nho giáo ở Việt Nam cuối thế kỷ XIV, và là một phong cách đô thành hoàng gia mới ở Đông Á và Đông Nam Á.
Canh bạc của nhà cải cách
Tòa thành chỉ là một phần trong chương trình cải cách táo bạo hiếm thấy. Nhà Hồ phát hành tiền giấy đầu tiên của nước ta (Thông bảo hội sao, 1396), ban hành phép hạn điền (1397) và hạn nô (1401) giới hạn ruộng đất và số gia nô mỗi người được sở hữu, đánh thẳng vào của cải của quý tộc họ Trần. Hồ Quý Ly còn đề cao chữ Nôm và cải tổ thi cử.
Giới sử học đến nay vẫn tranh luận ông là nhà cải cách có tầm nhìn hay kẻ cướp ngôi. Có lẽ cả hai đều đúng. Điều chắc chắn là những cải cách ấy tạo ra nhiều kẻ thù trong nước, đúng lúc một đế chế hùng mạnh bên ngoài đang tìm cớ.
Vài tuần, chứ không phải vài năm
Cuối năm 1406, quân Minh của vua Vĩnh Lạc tràn sang, lấy danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”. Nhà Hồ đã chuẩn bị: phòng tuyến dọc các sông lớn, súng thần cơ. Nhưng không đủ. Đến cuối tháng Giêng năm 1407, cả Đông Đô lẫn Tây Đô đều thất thủ. Tòa thành đá kiên cố không cầm chân được quân xâm lược bao lâu. Đến tháng 6 năm ấy, cha con họ Hồ bị bắt. Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị giải sang Trung Quốc và mất nơi đất khách. Đại Ngu trở thành quận Giao Chỉ của nhà Minh suốt hai mươi năm, cho tới khi khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đánh đuổi quân Minh.
Sử cũ chép lại một câu của con trưởng Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng khi triều đình bàn kế chống giặc: “Thần không sợ đánh, chỉ sợ lòng dân không theo.” Dù câu chữ nguyên văn thế nào, đó vẫn là lời giải thích đúng nhất cho số phận tòa thành. Đá có thể khai thác trong vài tháng. Lòng dân thì không.
Cuộc đời Hồ Nguyên Trừng còn một đoạn kết lạ. Bị bắt sang phương Bắc, ông được nhà Minh dùng vào việc chế tạo hỏa khí, lên tới chức vụ cao trong bộ Công, và về già viết tập ký ức về quê hương mang tên Nam Ông mộng lục.
Vì sao vẫn đáng nhớ
Ngày nay Thành nhà Hồ nằm trên đất huyện Vĩnh Lộc cũ, lúa mọc trong lòng thành, trâu bò gặm cỏ bên cổng. Phần lớn vòng tường đã đổ nát, nhưng bốn cổng thành vẫn còn, và các nhà khảo cổ vẫn đang xác định vị trí các cung điện xưa.
Nơi này đáng ghé không chỉ vì những khối đá. Tây Đô là một nơi hiếm hoi mà ta có thể đứng ngay giữa một cuộc tranh luận lịch sử: một nhà nước có thể được làm lại từ trên xuống nhanh đến đâu, và sức mạnh của một quốc gia nằm ở tường thành bao nhiêu, ở con người bao nhiêu. Hồ Quý Ly đã xây bức tường vững nhất thời đại mình, vậy mà vẫn mất nước chỉ trong một mùa.
Nguồn
- Citadel of the Ho Dynasty — UNESCO World Heritage Centre
- Citadel of the Hồ Dynasty — Wikipedia
- Hồ Quý Ly — Wikipedia
- Ming conquest of Đại Ngu — Wikipedia
- Hồ Nguyên Trừng — Wikipedia
- Thanh Hoá uncovers its past — VietNamNet
- Central province approves excavation of citadel — Việt Nam News
- Ancient worship ceremony held after 600-year break — Việt Nam News
- Huyền bí thành nhà Hồ — Giáo dục Việt Nam
- The state and law under the Hồ dynasty (1400–1407) — Vietnam Law & Legal Forum
Ảnh bìa: Cổng Nam thành Tây Đô của Silviculture, phạm vi công cộng, qua Wikimedia Commons.
