Gọi một ly cà phê ở Hà Nội là bạn đã nói tiếng Pháp mà không hay. Cà phê là café. Miếng bơ trong ổ bánh mì là beurre, lát phó mát hay phô mai bên cạnh là fromage, còn ga nơi bạn lên tàu là gare. Xe máy thủng lốp thì thợ kiểm tra cái săm (chambre à air), cái lốp (enveloppe), sửa xong lại bảo đi đổ xăng (essence).
Mới đây tôi có viết về từ Hán Việt, lớp từ gốc Hán nằm dưới tiếng Việt trang trọng. Lớp từ gốc Pháp mỏng hơn nhiều và cũng trẻ hơn nhiều, chỉ là dấu vết của chưa đầy một thế kỷ tiếp xúc thời thuộc địa, từ thập niên 1860 đến 1954. Nhưng nó nằm ngay trong những thứ đời thường nhất: đồ ăn, quần áo, máy móc, giấy tờ. Nó cũng là một mẫu nhỏ và rõ để xem một ngôn ngữ “tiêu hoá” từ ngoại lai ra sao.
Thực ra còn bao nhiêu từ?
Ít hơn ta tưởng. Con số cẩn thận nhất tôi tìm được là kho ngữ liệu của Vera Scholvin và Judith Meinschaefer (Đại học Tự do Berlin). Họ xuất phát từ 1.038 từ tiếng Việt gốc Pháp, rồi chỉ giữ lại những danh từ còn được dùng, đối chiếu với đánh giá của người bản ngữ, tần suất, mức độ xuất hiện trên mạng và từ điển tiếng Việt. Còn lại 533 danh từ.
Để so sánh: Cơ sở dữ liệu Từ vay mượn Thế giới (WOLD) có bảng từ vựng tiếng Việt do nhà ngôn ngữ học Mark Alves biên soạn, gồm 1.477 từ cho các nghĩa cơ bản, trong đó khoảng 27% là từ vay mượn, phần lớn gốc Hán. Từ gốc Pháp xuất hiện đúng ở những chỗ ta đoán được: xúp (soupe), phó mát, bơ, rượu vang (vin), áo sơ mi (chemise), xà phòng, ô tô, xe buýt, pin (pile), tem (timbre), tua vít (tournevis), phim và cà phê.
Nói cách khác, tiếng Pháp cho tiếng Việt đồ vật chứ không cho khái niệm. Từ ngữ trừu tượng, hành chính vẫn tiếp tục được tạo từ gốc Hán Việt, kể cả cho những khái niệm mới. Ngân hàng là chữ chính thức, dù WOLD vẫn ghi nhận băng gốc Pháp (như trong chữ nhà băng xưa).
Nhét tiếng Pháp vào khuôn âm tiết tiếng Việt
Điều thú vị nằm ở hình dạng mà những từ này buộc phải mang. Tiếng Việt được xây từ những âm tiết đơn, mỗi âm tiết mang một trong sáu thanh. Tiếng Việt gần như không cho phép phụ âm ghép (cụm phụ âm), và chỉ một số ít âm được đứng cuối âm tiết. Tiếng Pháp thì phạm hết các quy tắc ấy, nên từ nào mượn vào cũng phải được dựng lại. Có vài quy luật nổi bật.
Gặp phụ âm ghép thì cắt bớt, không chêm thêm. Với chữ crème, tiếng Nhật chêm nguyên âm vào giữa các phụ âm: kurīmu. Tiếng Việt thì thường bỏ bớt một âm: crème thành kem, timbre thành tem, fromage thành phó mát, frein thành phanh. Scholvin và Meinschaefer xác nhận đây là xu hướng chung trong kho ngữ liệu của họ. Tiếng Việt ưu tiên lược âm hơn là chêm âm, điều họ lưu ý là ngược với nhiều ngôn ngữ khác. Ngay cả khi có thêm âm tiết, như cravate thành cà vạt, kết quả vẫn là một chuỗi âm tiết tiếng Việt hợp lệ.
Từ dài thì bị cắt ngắn, và phần cuối được giữ lại. Tiếng Pháp nhấn trọng âm ở âm tiết cuối của từ hoặc cụm từ, và đó thường là phần tiếng Việt giữ lại. Essence thoạt đầu thành ét-xăng, sau rút gọn còn xăng. Enveloppe thành lốp, automobile thành ô tô, chambre thành săm. Nếu biết chút tiếng Pháp, nhiều khi bạn đoán được từ gốc bằng cách nghĩ xem phần đuôi được nhấn của nó nghe thế nào.
Âm tiết nào cũng phải có thanh. Tiếng Pháp không có thanh điệu, nên người nói phải tự gán cho mỗi âm tiết mới một thanh. Giới ngôn ngữ học đã nghiên cứu chuyện này (công trình của Sabine Huynh và kho ngữ liệu Berlin đều tập trung vào vấn đề thanh điệu), và bức tranh thật phức tạp hơn bất kỳ quy tắc đơn lẻ nào. Dù vậy, có một xu hướng nghe ra ngay ở các từ quen thuộc: âm tiết đầu không được nhấn và không có phụ âm cuối hay mang thanh huyền. Có thể nghe thấy điều này trong cà phê, cà rốt (carotte), cà vạt, xà phòng (savon). Giờ gặp một từ hai tiếng mới bắt đầu bằng cà- hay xà-, tôi đã quen ngờ ngợ có một chữ Pháp đằng sau.
Mỗi miền mượn một kiểu. Bắc và Nam không phải lúc nào cũng chốt cùng một dạng. Savon ngoài Bắc thành xà phòng, trong Nam thành xà bông, và theo Wiktionary thì ở miền Nam từ này nhiều khi chỉ bột giặt hơn là xà phòng tắm. Pho-mát cũng vậy, phó mát hay phô mai tuỳ người nói.
Một ngộ nhận nên bỏ
Từ “gốc Pháp” nổi tiếng nhất của tiếng Việt thực ra không hề là từ mượn tiếng Pháp. Bánh mì là từ ghép thuần Việt: bánh (chữ gọi chung các loại bánh, kể cả bánh mì và bánh bao) cộng với mì (lúa mì). Cái bánh đến từ Pháp; cái tên thì không. Tiếng Pháp mang ổ bánh mì dài đến, còn người Việt đặt tên cho nó bằng chữ của mình. Đó cũng là cách tóm gọn cả lớp từ này.
Rút ra gì cho người học
- Biết tiếng Pháp thì dùng nó để giải mã, đừng coi là từ điển. Đảo ngược các quy luật trên: thêm lại âm r bị bỏ, hình dung cả chữ đằng sau một âm tiết bị cắt, bỏ qua thanh điệu. Tem, kem, ga, phim, pin hiện ra ngay. Nhưng đừng mặc định chữ Pháp nào cũng có trong tiếng Việt, vì phần lớn là không.
- Học thanh như với từ thuần Việt. Lỗi tôi hay nghe nhất ở người nước ngoài là đọc cà phê như café. Với tai người Việt, thanh điệu chính là từ: ga (nhà ga) và gà là hai chữ khác hẳn nhau, có biết từ gốc Pháp cũng không cứu được.
- Để ý văn phong. Từ gốc Pháp mang tính đời thường, khẩu ngữ, thực dụng. Khi đã có từ Hán Việt tương đương (ngân hàng thay vì nhà băng), dùng từ Hán Việt trong văn viết thường an toàn hơn.
- Người Việt học tiếng Pháp thì được lợi theo chiều ngược lại. Garage, antenne, cravate, carotte là vốn từ cho không. Cái khó nằm ở việc dựng lại các phụ âm ghép và phụ âm cuối mà tiếng Việt đã gọt đi, nên hãy tập crème, timbre thật chậm, từng âm một.
Ngôn ngữ nào cũng là cuốn sổ ghi lại những ai nó từng gặp. Hán Việt ghi lại một nghìn năm văn hoá chữ Hán. Lớp từ gốc Pháp ghi lại chừng chín mươi năm cà phê, phó mát, săm lốp và tem thư, được gọt thành những âm tiết mà người Việt đọc trơn tru không cần nghĩ.
Nguồn
- Vera Scholvin & Judith Meinschaefer, “The integration of French loanwords into Vietnamese: A corpus-based analysis of tonal, syllabic and segmental aspects” (ICAAL 7 / JSEALS, bản trên HAL)
- Scholvin & Meinschaefer, Kho ngữ liệu 533 danh từ tiếng Việt gốc Pháp (Đại học Tự do Berlin, Refubium)
- World Loanword Database: bảng từ vựng tiếng Việt (Mark Alves)
- Sabine Huynh, “L’assimilation des mots d’emprunts français à la langue vietnamienne : la question des tons”, Cahiers de linguistique – Asie orientale 37(2), 2008 (thư mục tham khảo, GERFLINT)
- Từ nguyên trên Wiktionary: xà bông, xăng, lốp, săm, phanh, bánh mì
- Cocotte’s Curated Guide to French Loanwords in Vietnamese (Vietcetera)