Người nói tiếng Anh có một lợi thế mà họ hiếm khi để ý. Lần đầu gặp chữ conflagration, có thể họ chưa biết nghĩa, nhưng biết ngay đây là từ trang trọng, hợp với trang báo hơn là căn bếp, và nếu từng học chút La-tinh thì đoán được nó dính dáng tới flagrant và chuyện cháy. Tiếng Anh thực chất là hai lớp chồng lên nhau: lớp Germanic dùng hằng ngày (fire, ask, help) và lớp La-tinh – Hy Lạp của giới học thuật (conflagration, interrogate, assistance).
Tiếng Việt có đúng cấu trúc ấy. Theo tôi, hiểu được nó là lối tắt lớn nhất cho bất kỳ ai đã qua giai đoạn nhập môn. Lớp từ học thuật đó chính là từ Hán Việt.
Từ Hán Việt thực chất là gì
Âm Hán Việt là một hệ thống cách đọc chữ Hán bằng tiếng Việt. Người Việt không vay từng từ một khi nghe người Hoa nói ngoài chợ; hệ thống này đi vào qua văn ngôn, tức thứ chữ viết của khoa cử và hành chính, và cách đọc phản ánh tiếng Hán trung đại vào khoảng thời Đường (618–907). Vì có tính hệ thống nên chữ Hán nào cũng có âm Hán Việt, kể cả những chữ chưa người Việt nào từng dùng trong câu nói. 學 đọc là học, 大 là đại, 國 là quốc.
Ngày nay người Việt không còn viết chữ Hán nữa, vì chữ Quốc ngữ đã thay thế nó trong thế kỷ XX, nhưng các yếu tố gốc Hán vẫn còn nguyên trong từ. Đại học chính là 大學, “cái học lớn”. Người viết chữ “đại học” hôm nay chẳng mấy ai nghĩ tới mặt chữ Hán, cũng như người Anh viết university chẳng ai nghĩ tới universitas.
Lớn đến đâu? Tùy cách đếm
Ta hay đọc thấy con số 60%, thậm chí 70% từ vựng tiếng Việt có gốc Hán. Nên dè dặt với những con số này. Các ước tính trong giới nghiên cứu dao động từ khoảng một phần ba đến 70%, và kết quả gần như hoàn toàn phụ thuộc vào việc đếm cái gì. Đếm mọi mục từ trong một cuốn từ điển lớn, gồm cả thuật ngữ luật, khoa học, văn chương, thì tỷ lệ sẽ cao. Còn đếm những từ người ta thật sự dùng mỗi ngày thì nó tụt hẳn: nhà ngôn ngữ học Mark Alves, khảo sát một danh sách 1.400 từ thông dụng, chỉ thấy khoảng 27% có gốc Hán. Ông cũng lưu ý rằng con số này vẫn đánh giá thấp ảnh hưởng của tiếng Hán, vì nó bỏ sót hư từ, từ sao phỏng và tên riêng.
Chính khoảng chênh ấy là bài học. Từ Hán Việt mỏng trong bếp và dày trên mặt báo, y như tiếng La-tinh trong tiếng Anh. Vì thế mà một người học ngoại quốc có thể chuyện trò thoải mái với bà chủ nhà, nhưng mở tờ Tuổi Trẻ ra là thấy mình bỗng dưng mù chữ.
Những lớp cũ hơn, khó nhận ra hơn
Không phải từ gốc Hán nào nghe cũng ra gốc Hán. Giới ngôn ngữ học tách riêng lớp Hán Việt cổ, được vay sớm hơn qua tiếp xúc khẩu ngữ trong thời kỳ Bắc thuộc kéo dài, và người Việt ngày nay cảm nhận chúng như từ thuần Việt. Cùng một chữ có thể có mặt ở cả hai lớp với hai âm khác nhau: 味 cho ta chữ mùi rất đời thường và chữ vị sách vở hơn (như trong gia vị). Lại có lớp từ “Việt hóa” với biến âm không theo quy luật; gương và vợ là những ví dụ hay được nhắc tới. Tôi lớn lên nói những chữ này mà chẳng hề biết chúng có gốc Hán.
Trật tự từ để lộ gốc gác
Cách nhanh nhất để nhận ra một từ ghép Hán Việt là nhìn trật tự từ. Tiếng Việt thuần đặt từ bổ nghĩa sau danh từ: ngựa trắng. Tiếng Hán, và vì thế cả từ Hán Việt, đặt nó trước: bạch mã. Vẫn là con ngựa trắng ấy, nhưng ở văn phong của tên đền và thơ cổ. Quốc gia là 國家, “nước – nhà”; còn ngoại quốc đứng cạnh chữ nước ngoài quen thuộc, cùng hai ý nhưng đảo ngược thứ tự.
Để ý rồi sẽ thấy những cặp như thế ở khắp nơi: nước ngoài / ngoại quốc, đàn bà / phụ nữ, chết / tử vong. Chữ đầu là cái ta nói ngoài đời; chữ sau là cái báo chí dùng, hoặc cái ta chọn khi muốn lịch sự, trang trọng hay giữ khoảng cách.
Một khúc quanh: có những chữ “Hán” lại đến từ Nhật
Nhiều từ Hán Việt nghe hiện đại nhất lại không hề được đặt ra ở Trung Quốc. Thời Minh Trị, học giả Nhật ghép các yếu tố gốc Hán thành từ mới để dịch khái niệm phương Tây. Lớp từ wasei-kango này quay ngược vào tiếng Hán, rồi đi tiếp vào tiếng Việt, chủ yếu trong đầu thế kỷ XX. Kinh tế (經濟), cách mạng (革命), xã hội, triết học, khoa học, điện thoại, tư bản, thời gian đều thuộc họ này. Một số từ đi đường vòng qua các bản dịch tiếng Hán chứ không vào thẳng từ tiếng Nhật; kinh tế, cộng hòa và mỹ thuật được xác định là ví dụ của con đường ấy.
Có một hệ quả mà tôi rất thích: tiếng Việt, tiếng Nhật và tiếng Hàn dùng chung một kho từ học thuật lớn, nghe khác nhau nhưng ghép từ cùng những mảnh ghép. Đại học, daigaku, daehak: một từ, ba giọng.
Người học tận dụng điều này thế nào
Đây là phần thực hành. Yếu tố Hán Việt là những mảnh ghép dùng đi dùng lại được, và học một mảnh thì rẻ hơn học từng từ:
- Học yếu tố, đừng chỉ học từ. Học là học. Thế là đại học, khoa học, triết học, sinh học, học sinh đã thuộc được một nửa trước cả khi gặp. Sinh là sống, là sinh ra: sinh viên, sinh nhật, và lại sinh học.
- Gặp từ trang trọng khó hiểu thì thử đọc ngược. Một từ hai âm tiết mà không hiểu, hãy đọc từ phải sang trái: bạch mã → ngựa, trắng.
- Ghép các cặp phong cách vào cùng một chỗ. Để chết và tử vong trên cùng một tấm thẻ. Biết khi nào dùng chữ nào là một nửa của việc nói cho tự nhiên; nói tử vong trong bữa cơm gia đình thì cả nhà sẽ tưởng đang nghe bản tin thời sự.
- Cẩn thận với từ đồng âm. Vì đã bỏ chữ Hán, một âm tiết có thể che giấu nhiều yếu tố chẳng liên quan gì đến nhau. Đồng có thể là 同 “cùng” (như đồng ý) hoặc 銅 “đồng” (kim loại), còn đồng thuần Việt lại là cánh đồng. Mẹo đoán theo yếu tố chỉ là giả thuyết để kiểm tra lại bằng ngữ cảnh, không phải bằng chứng.
Với người Việt học tiếng Nhật hay tiếng Hàn, mẹo này chạy theo chiều ngược lại, và đó là một lợi thế thật sự: hàng nghìn từ học thuật về cơ bản đã quen sẵn.
Tôi coi từ Hán Việt như bộ khung đỡ tiếng Việt trang trọng. Sống trong ngôi nhà thì có thể chẳng bao giờ nhìn thấy nó. Nhưng đến ngày cần đọc văn bản luật, đọc báo hay một cuốn giáo trình đại học, biết xà nhà nằm ở đâu sẽ giúp ích rất nhiều.