Tranh Đông Hồ: Sắc Tết bên sông Đuống, nay chỉ còn vài nhà giữ nghề

Ngày trước, cứ cận Tết, nhà nào ở đồng bằng Bắc Bộ cũng dán lên vách vài tờ tranh: đàn lợn béo tròn, gà mẹ quây đàn con, đám rước chuột cưới vợ. Tranh rẻ, tươi, dán một năm rồi thôi; Tết sau lại mua tờ mới. Tất cả những tờ tranh ấy đến từ một làng bên sông Đuống.

Làng ấy là Đông Hồ — nay là khu phố Đông Khê, phường Thuận Thành, Bắc Ninh, cách Hà Nội chừng 35 km. Theo các tài liệu chính thức, nghề tranh ở đây đã có khoảng 500 năm. Ngày 9/12/2025, tại kỳ họp thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 ở New Delhi, UNESCO ghi danh Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp — di sản thứ 17 của Việt Nam được UNESCO ghi danh. Chữ đáng chú ý nhất ở đó là “khẩn cấp”.

Giấy điệp

Nền tranh là giấy dó, quét lên một lớp điệp — bột vỏ sò nghiền mịn, trộn hồ gạo nếp. Lớp điệp khô đi để lại ánh óng bạc và những đường vân chổi chạy dọc tờ giấy, nghiêng tranh ra chỗ sáng là thấy (nhìn kỹ ảnh bìa). Đây là thứ đầu tiên để phân biệt tranh thật với tranh in máy trên giấy thường.

Màu của đồng quê

Bảng màu Đông Hồ ít ỏi và hoàn toàn tự nhiên: đỏ từ sỏi son, vàng từ hoa hòe, xanh từ lá chàm, trắng chính là điệp, đen từ than lá tre hoặc rơm nếp đốt. Màu nằm phẳng, hơi loang, thấy cả thớ ván in, và ánh điệp lấp lánh bên dưới. Cái “quê” ấy chính là vẻ đẹp của nó.

Mỗi màu một ván, nét đen in sau cùng

Mỗi bức tranh cần nhiều ván khắc — thường bằng gỗ thị — mỗi màu một ván, thêm một ván nét. Người thợ quét màu lên ván, đặt giấy, xoa ép bằng tay, rồi chuyển sang màu kế tiếp, căn tờ giấy hoàn toàn bằng mắt. Màu đỏ in trước, các màu khác in lần lượt, bản nét đen in sau cùng để “khóa” lại toàn bộ hình. Một tờ tranh có thể qua bốn, năm lần in; màu nào cũng khớp đúng chỗ mới là tay nghề.

Tranh nói gì

Giới nghiên cứu chia tranh Đông Hồ thành bảy loại: tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh sinh hoạt. Phổ biến nhất là tranh chúc tụng: Lợn đàn với khoáy âm dương trên mình lợn, Gà đàn, đôi Vinh hoa – Phú quý — cầu no đủ, đông con nhiều cháu. Tranh lịch sử thì có Bà Triệu cưỡi voi, Hai Bà Trưng.

Còn có những bức thâm thúy hơn. Đám cưới chuột (ảnh bìa): chú rể cưỡi ngựa, cô dâu ngồi kiệu, nhưng muốn rước dâu êm thấm thì phải đem cá, đem chim dâng lên ông mèo trước. Người ta vẫn hiểu đó là lời châm chọc đám cường hào, chức dịch trong làng — vẽ không ký tên, nên chẳng ai bắt bẻ được. Đánh ghen thì kể chuyện vợ cả đánh ghen thẳng thừng chẳng kém. Tranh của nhà nông, cười cái nhà nông vẫn cười.

Năm phiên chợ tháng Chạp

Ngày xưa cả làng làm tranh quanh năm chỉ để bán trong năm phiên chợ tranh Tết họp ở đình Đông Hồ vào các ngày 6, 11, 16, 21 và 26 tháng Chạp. Lái buôn mua cả xấp tranh đem đi khắp các chợ miền Bắc. Sau năm 1945, chiến tranh, chợ tranh tan dần, và nhịp sống từng nuôi cả làng nghề cũng mất theo. Năm 1948, Hoàng Cầm viết Bên kia sông Đuống với hai câu mà ai đi học cũng thuộc: “Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong / Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp”.

Còn lại vài nếp nhà

Đông Hồ từng có 17 dòng họ làm tranh. Nay nghề chủ yếu còn trong hai, ba gia đình, nổi bật là dòng họ Nguyễn Đăng và Nguyễn Hữu, với khoảng 30 người qua mấy thế hệ. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế đã sưu tầm, phục hồi nhiều bộ ván in cổ, có bộ hơn 200 năm tuổi, và lập trung tâm tranh Đông Hồ năm 2008; cố nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam truyền lại toàn bộ ván in cho con trai. Áp lực thì dễ thấy: Tết bây giờ trang trí bằng đồ nhựa, tranh in công nghiệp, còn tranh nhái trên giấy thường bán rẻ hơn nhiều. Bắc Ninh đã có đề án bảo vệ, phát huy di sản đến năm 2035, và chợ tranh xưa được tái hiện năm 2024.

Tết này, nếu mua, hãy mua một tờ tranh thật — sờ thấy lớp điệp, nhìn thấy vân màu — và dán nó lên tường đúng như người xưa vẫn làm.

Nguồn

Ảnh bìa: tranh Đám cưới chuột trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Hà Nội. Ảnh: Daderot, CC0 (phạm vi công cộng), qua Wikimedia Commons.

Đăng ngày Chuyên mục Văn hóa