Xưng hô trong tiếng Việt: vì sao người nước ngoài thấy khó nhất

Câu tiếng Anh đầu tiên ai cũng biết, “I love you”, không có một bản dịch duy nhất sang tiếng Việt. Chồng nói với vợ: anh yêu em. Con nói với mẹ: con yêu mẹ. Bà nói với cháu: bà yêu cháu. Động từ giữ nguyên, nhưng “I” và “you” đổi theo người nói và người nghe.

Đây là phần tiếng Việt khó giải thích với người nước ngoài nhất. Với tôi nó cũng là phần khó nhận ra nhất, vì người bản ngữ thấy nó quá tự nhiên. Tiếng Anh có đúng một I và một you cho mọi người, từ sếp đến con chó trong nhà. Tiếng Việt thì bắt người nói xác định quan hệ với người kia trước khi nói xong một câu.

Đại từ phần lớn là… người trong họ

Tiếng Việt vẫn có đại từ nhân xưng thực thụ: tôi, tao và mày (thân mật hoặc suồng sã), nó, mình. Nhưng trong giao tiếp lịch sự hằng ngày, phần lớn cách xưng và gọi dùng từ chỉ quan hệ thân tộc:

  • anh: anh trai. Cũng dùng cho người đàn ông lớn hơn mình một chút, hoặc chồng, người yêu.
  • chị: chị gái, hoặc người phụ nữ lớn hơn mình một chút.
  • em: em ruột, hoặc bất kỳ ai nhỏ tuổi hơn. Vợ, người yêu cũng là em.
  • cô, chú, bác: người cỡ tuổi bố mẹ mình.
  • ông, bà: người cao tuổi, và cũng là cách gọi trang trọng.
  • con, cháu: vai dưới trong các cặp trên.

Các từ này luôn đi theo cặp. Tôi gọi bạn là chị thì tôi xưng em. Bạn gọi tôi là cháu thì bạn là cô, chú hoặc bác. Vì vậy câu nào cũng ngầm ghi lại hai người hơn kém nhau bao nhiêu tuổi và thân sơ đến đâu. Nhà nhân học Lương Văn Hy viết hẳn một cuốn sách về chuyện này: Discursive Practices and Linguistic Meanings: The Vietnamese System of Person Reference (1990). Hai chương trong sách được đặt tên theo đúng hai từ “Anh” và “Chú”. Ý chính của ông là không thể định nghĩa những từ này chỉ bằng nghĩa từ điển. Anh nghĩa là gì còn tuỳ việc dùng nó làm thay đổi quan hệ giữa hai người ra sao.

“Tôi” từng có nghĩa là “đầy tớ”

Còn tôi, đại từ “trung tính”? Thật ra xưa kia nó chẳng trung tính chút nào. Tôi vốn là danh từ chỉ kẻ hầu, bề tôi, như trong vua tôi. Tự xưng tôi ban đầu là một cách hạ mình, giống như cuối thư ký “kẻ hầu của ngài”. Nhà nghiên cứu Hoàng Anh Ngọc đã lần theo quá trình từ thế kỷ 17 trở đi: tôi dần rời nghĩa ấy để tiến gần đến cái “tôi” cá nhân độc lập kiểu phương Tây. Ngày nay ta dùng nó với người lạ, ở cơ quan, trên bản tin.

Đến giờ tôi vẫn lạnh và xa cách. Đứa con xưng tôi với bố mẹ là hỗn, hoặc đang muốn cãi nhau. Hai người đang anh–em bỗng chuyển sang tôi–anh là đang báo cho nhau biết có chuyện không ổn.

Ngôi thứ ba, và chuyện Bắc–Nam

Muốn nói về người thứ ba thì thêm ấy: anh ấy, chị ấy, ông ấy. Trong Nam, cụm này hay được nén thành một tiếng mang dấu hỏi: ổng, bả, ảnh, chỉ. Bạn người Bắc lần đầu nghe người Sài Gòn nói ảnh nói thường phải khựng lại một giây mới hiểu.

Bản thân các từ thân tộc cũng đổi nghĩa theo vùng. Ngoài Bắc, bác là anh chị của bố hoặc mẹ. Trong Nam, nghĩa gốc của bác hẹp hơn: anh của bố. Người Nam dùng cô cho chị em gái của bố và dì cho chị em gái của mẹ, không phân biệt lớn hay nhỏ tuổi hơn, còn người Bắc thì có phân biệt. Ngoài Bắc gọi mẹ, trong Nam gọi má. Người Nam còn gọi tắt ông bà bên mẹ là ngoại. Bạn bè ngoài Bắc hay xưng cậu–tớ, cách này trong Nam ít dùng.

Vì sao người học thấy khó

Tiếng Việt không đơn độc. Năm 1968, Joseph Cooke so sánh ba ngôn ngữ Đông Nam Á trong cuốn Pronominal Reference in Thai, Burmese, and Vietnamese. Ở cả ba thứ tiếng này, chọn cách xưng hô là một quyết định mang tính xã hội. Người nói tiếng Anh thấy khó vì tiếng Việt nhét thông tin về quan hệ vào những từ mà tiếng Anh coi là ngữ pháp thuần tuý. Các lỗi tôi hay nghe ở bạn bè nước ngoài:

  • Xưng tôi với tất cả mọi người. Không sai, nhưng lạnh. Xưng tôi với cô bán hàng ngoài chợ trạc tuổi mẹ mình nghe như đang đọc biểu mẫu.
  • Đoán sai tuổi theo chiều bất lợi. Gọi một phụ nữ 30 tuổi là cô dễ khiến người ta thấy mình bị gọi già. Gọi chị an toàn hơn.
  • Quên cặp đôi. Đã gọi người ta là anh thì phải tự xưng em. Xưng hô lẫn lộn nghe rất chối tai.
  • Né bằng bạn. Bạn là “you” trung tính trong giáo trình, ứng dụng và quảng cáo. Nói với người lớn tuổi ngoài đời thì nó nghe cứng, như quảng cáo đang nói với mình.

Bắt đầu thế nào cho thực tế

Hỏi thay vì đoán. Người Việt hỏi tuổi, hỏi năm sinh nhau ngay từ đầu, và việc đó không bị coi là bất lịch sự, vì họ cần biết để chọn cách xưng hô. Người học cứ hỏi thẳng: Em nên gọi anh/chị là gì ạ?

Rồi dùng một quy tắc mặc định đơn giản:

  1. Người rõ ràng lớn hơn mình nhưng chưa bằng tuổi bố mẹ: gọi anh / chị, xưng em.
  2. Người cỡ tuổi bố mẹ: gọi cô / chú (hoặc bác nếu lớn hơn bố mẹ mình), xưng cháu.
  3. Người cao tuổi: gọi ông / bà, xưng cháu (trong Nam hay xưng con).
  4. Người nhỏ tuổi hơn: gọi em, xưng anh hoặc chị.

Quan trọng nhất là nghe xem người ta tự xưng là gì. Cô bán hàng nói chị lấy cho em nhé là đã cho bạn biết bạn đứng ở vị trí nào trong cuộc trò chuyện này.

Khi đã quen, cách xưng hô không còn là gánh nặng nữa. Tiếng Anh cho phép người ta nói chuyện với nhau mà không bao giờ phải nói rõ quan hệ giữa hai người. Tiếng Việt thì gần như câu nào cũng phải nói điều đó.

Nguồn

Đăng ngày Chuyên mục Ngôn ngữ