Từ 08/10/2026, học bạ số có giá trị pháp lý như học bạ giấy

Nhiều thế hệ học sinh Việt Nam đã quen với cuốn học bạ: năm nào cũng ghi điểm, xếp loại rèn luyện, lời phê của thầy cô, và gần như thủ tục nào cũng cần tới nó hoặc bản sao chứng thực, từ chuyển trường, xét tuyển đại học đến nộp hồ sơ xin việc. Từ 08/10/2026, học bạ có hình thức điện tử được pháp luật công nhận. Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc tạo lập, ký số, phát hành, chia sẻ, lưu trữ và bảo mật học bạ số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên.

Thông tin văn bản

  • Số hiệu: Thông tư 70/2026/TT-BGDĐT
  • Cơ quan ban hành: Bộ Giáo dục và Đào tạo; Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng ký thay Bộ trưởng
  • Ngày ban hành: 22/8/2026
  • Ngày có hiệu lực: 08/10/2026
  • Bố cục: 7 chương, 26 điều
  • Căn cứ chính: Luật Giáo dục 43/2019/QH14 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật 123/2025/QH15), Luật Giao dịch điện tử 20/2023/QH15, Luật Dữ liệu 60/2024/QH15, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 91/2025/QH15, Nghị định 69/2024/NĐ-CP về định danh và xác thực điện tử, Nghị định 23/2025/NĐ-CP về chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy, và Nghị định 88/2026/NĐ-CP (28/3/2026) quy định quản lý dữ liệu giáo dục và đào tạo.

Trang văn bản của Cổng Thông tin điện tử Chính phủ khớp với toàn văn về số hiệu, ngày ban hành 22/8, ngày hiệu lực 08/10 và người ký.

Điểm mới so với trước

Học bạ số đã được thí điểm hơn hai năm. Kế hoạch 213/KH-BGDĐT ngày 01/3/2024, cũng do Thứ trưởng Phạm Ngọc Thưởng ký, triển khai thí điểm ở các khối lớp 1 đến lớp 4 tại cả 63 tỉnh, thành phố thời điểm đó. Sau đó một số địa phương như Hà Nội mở rộng thí điểm lên cấp trung học, có tích hợp chữ ký số. Tuy vậy, các đợt thí điểm chỉ dựa trên kế hoạch và công văn hướng dẫn. Thông tư 70 là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên định nghĩa học bạ số và quy định khi nào học bạ số có giá trị.

1. Giá trị pháp lý như học bạ giấy. Theo Điều 4, học bạ số tạo lập đúng thẩm quyền, đúng quy trình, đúng chuẩn dữ liệu và được ký số theo Điều 9 thì “có giá trị pháp lý như học bạ giấy”. Học bạ số được dùng trong quản lý giáo dục, thủ tục hành chính và các giao dịch hợp pháp khác.

2. Mỗi người học một học bạ số duy nhất. Điều 7 quy định mỗi người học có một học bạ số duy nhất gắn với mã số hồ sơ học tập suốt đời. Khi chuyển trường, học bạ được kế thừa và đồng bộ sang trường mới, không lập lại từ đầu. Học bạ số được tạo lập theo từng năm học, trước ngày 30/6 hằng năm, trường hợp đặc biệt trước ngày 30/8.

3. Ký số hai lớp, phát hành xong thì khóa. Điều 8 và Điều 9 yêu cầu ký số cá nhân của người có thẩm quyền (giáo viên môn học, giáo viên chủ nhiệm, hiệu trưởng hoặc người được ủy quyền), sau đó ký số của cơ sở giáo dục. Trình tự gồm năm bước: hoàn thiện dữ liệu, kiểm tra và đối chiếu, ký số cá nhân, ký số tổ chức, cập nhật trạng thái trên hệ thống. Học bạ đã phát hành không được sửa trực tiếp (khoản 5 Điều 7). Muốn điều chỉnh phải xác thực, ký số và phát hành lại (khoản 3 Điều 10). Mỗi lần phát hành đều được ghi nhận thời gian, chủ thể phát hành, mục đích và người nhận.

4. Không được đòi thêm học bạ giấy. Khoản 3 Điều 12 là quy định người dân dễ cảm nhận nhất: khi học bạ số, bản điện tử hoặc bản trích lục điện tử đã đáp ứng điều kiện của Thông tư, cơ quan, tổ chức tiếp nhận không được yêu cầu nộp thêm học bạ giấy, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Nếu hệ thống tiếp nhận chưa kết nối trực tuyến được thì dùng bản điện tử có xác thực (khoản 4 Điều 12). Người học hoặc người đại diện có quyền yêu cầu nhà trường chuyển đổi học bạ số sang văn bản giấy hợp lệ và không phải trả phí (khoản 5 Điều 12).

5. Tra cứu qua VNeID và Cổng Dịch vụ công quốc gia. Theo Điều 11, người học, cha mẹ hoặc người giám hộ, nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục khai thác học bạ số qua phần mềm quản lý giáo dục, Cổng Dịch vụ công quốc gia và ứng dụng VNeID. Cơ quan, tổ chức khác chỉ được khai thác khi có căn cứ pháp lý hoặc có sự đồng ý hợp lệ của chủ thể dữ liệu, và chỉ được xem phần dữ liệu cần thiết.

Bảo vệ dữ liệu học bạ

Chương V biến Thông tư này thành một văn bản về dữ liệu. Học bạ số phải kết nối, đồng bộ với Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo. Yêu cầu kỹ thuật tối thiểu gồm chuẩn định dạng mở, mã định danh thống nhất và duy nhất, cơ chế xác thực và phân quyền, khả năng lưu vết, đồng bộ theo thời gian thực hoặc theo chu kỳ (khoản 3 Điều 14). Dữ liệu chỉ được chia sẻ đúng mục đích, bên nhận không được chuyển giao trái phép cho bên thứ ba (Điều 15). Mọi thao tác tạo lập, chỉnh sửa, khai thác, chia sẻ đều phải được lưu vết (khoản 5 Điều 5, khoản 3 Điều 16). Khoản 3 Điều 17 nghiêm cấm truy cập trái phép, làm sai lệch dữ liệu, tiết lộ, mua bán dữ liệu học bạ, giả mạo chữ ký số hoặc bản trích lục điện tử.

Người học có các quyền của chủ thể dữ liệu theo Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân (Điều 18). Khi có đủ minh chứng về sai sót, nhà trường phải cập nhật trong thời hạn không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (khoản 8 Điều 22).

Ai chịu tác động

  • Nhà trường (cơ sở thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông và cơ sở giáo dục thường xuyên cấp THCS, THPT): phải phân công người nhập liệu, kiểm tra, ký số, phát hành và quản trị; ban hành quy chế phân quyền nội bộ; sao lưu và phục hồi dữ liệu.
  • Giáo viên: mỗi người cần có chữ ký số và chịu trách nhiệm cá nhân về dữ liệu mình xác nhận (khoản 1 Điều 23).
  • Doanh nghiệp công nghệ giáo dục: khoản 3 Điều 23 quy định đơn vị cung cấp giải pháp, dịch vụ kỹ thuật cho học bạ số chịu trách nhiệm về yêu cầu kỹ thuật, an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu “theo hợp đồng và theo quy định của pháp luật”. Các nhà cung cấp phần mềm quản lý trường học nên đọc điều này cùng với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân.
  • Trường đại học, nhà tuyển dụng, Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận học bạ: phải kiểm tra, xác thực dữ liệu trước khi sử dụng và không được dùng ngoài mục đích tiếp nhận.

Chuyển tiếp

Học bạ giấy lập trước ngày 08/10/2026 vẫn có giá trị sử dụng (khoản 1 Điều 25). Từ ngày Thông tư có hiệu lực, nhà trường tạo lập học bạ số cho cả người học đang theo học và người học mới. Việc số hóa học bạ giấy cũ theo lộ trình Bộ hướng dẫn, ưu tiên người đang học và các trường hợp thường xuyên phát sinh thủ tục hành chính (khoản 4 Điều 25).

Những điểm còn bỏ ngỏ

  • Chuẩn dữ liệu chưa được công bố. Điều 6 và Điều 19 giao Bộ quy định cấu trúc trường dữ liệu, quy tắc mã hóa, chuẩn hiển thị và chuẩn kết nối. Khi chưa có chuẩn này, các nhà cung cấp phần mềm vẫn phải xây dựng theo một mục tiêu chưa cố định.
  • Chi phí và mức độ sẵn sàng của chữ ký số. Trang bị chữ ký số cá nhân cho mọi giáo viên bộ môn trên cả nước là gánh nặng lớn về chi phí và tổ chức. Thông tư không nói ai chi trả.
  • Phạm vi và học bạ giấy cũ. Thông tư áp dụng cho các cơ sở thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông (từ tiểu học đến THPT) và cơ sở giáo dục thường xuyên. Trường nghề và đại học nằm ngoài phạm vi. Lộ trình số hóa học bạ giấy cũ chưa được ban hành, nên nhà tuyển dụng và trường đại học còn tiếp nhận học bạ giấy của các thế hệ trước trong nhiều năm nữa.

Nguồn

Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.