Suốt 13 năm, cách các nhà mạng Việt Nam chứng minh chất lượng dịch vụ mình bán ra được điều chỉnh bởi Thông tư 08/2013/TT-BTTTT, ký ngày 26/3/2013 theo Luật Viễn thông 2009, bởi một bộ đã được sáp nhập vào Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2025. Văn bản này được sửa năm 2020, cắt chế độ báo cáo định kỳ năm 2023, phân cấp thủ tục tháng 5/2026 và được hợp nhất ngày 25/8/2026 thành Văn bản hợp nhất 10/2026/VBHN-TT-BKHCN để còn đọc được liền mạch. Ngày thứ Bảy 31/10/2026, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ký văn bản thay thế: Thông tư 64/2026/TT-BKHCN quy định về quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông, được đăng trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 2/11 và có hiệu lực từ 1/4/2027.
Thông tư mới ngắn hơn văn bản cũ nhưng dịch chuyển trọng tâm quản lý. Doanh nghiệp phải công bố chất lượng trước khi bán dịch vụ, thay vì trong 60 ngày sau khi bắt đầu cung cấp. Doanh nghiệp phải công khai bản tổng hợp kết quả tự kiểm tra hằng quý theo thời hạn cụ thể và xây dựng cơ sở dữ liệu chất lượng để cơ quan quản lý kết nối. Đổi lại, kế hoạch kiểm tra hằng năm và kế hoạch đo kiểm hằng năm mà thông tư cũ yêu cầu ban hành vào tháng 1 không còn: Nhà nước chỉ kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc theo kế hoạch chuyên đề được phê duyệt trước ngày 20/11 năm trước, và phải công khai quyết định cùng kết quả. Thêm một lớp dữ liệu từ người dùng: kết quả đo qua Hệ thống đo tốc độ truy nhập Internet Việt Nam được công khai hằng tháng, nhưng chỉ để tham khảo.
Văn bản là gì
- Số hiệu, cơ quan ban hành: Thông tư 64/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ, ban hành theo đề nghị của Cục trưởng Cục Viễn thông.
- Ngày ký: 31/10/2026, người ký là Bộ trưởng Vũ Hải Quân. Hiệu lực: 1/4/2027 (Điều 24).
- Kết cấu: 8 chương, 26 điều và 7 biểu mẫu (Mẫu số 01 đến 07): công văn công bố, bản công bố, bản tiếp nhận của tỉnh, bản tự công bố, kết quả kiểm tra định kỳ, thông báo ban đầu về sự cố và báo cáo sự cố.
- Căn cứ pháp lý: Luật Viễn thông số 24/2023/QH15 (Điều 69 về cơ quan quản lý, Điều 55 về thẩm quyền ban hành Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng), Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được sửa đổi bởi Luật số 70/2025/QH15, Nghị định 163/2024/NĐ-CP, Nghị định 217/2025/NĐ-CP về hoạt động kiểm tra chuyên ngành, Nghị định 22/2026/NĐ-CP và Nghị định 225/2026/NĐ-CP.
- Văn bản hết hiệu lực từ 1/4/2027: Thông tư 08/2013/TT-BTTTT, Thông tư 33/2020/TT-BTTTT và Điều 1, Điều 4 của Thông tư 21/2026/TT-BKHCN (thông tư phân cấp tháng 5/2026; các điều khác về kết nối, kiểm định thiết bị vẫn giữ nguyên).
- Không thay đổi: Danh mục dịch vụ viễn thông bắt buộc quản lý chất lượng vẫn là Thông tư 28/2026/TT-BKHCN, có hiệu lực từ 15/7/2026, gồm 4 nhóm: Internet băng rộng cố định mặt đất qua FTTH/xPON hoặc modem cáp truyền hình (QCVN 34:2022/BTTTT), điện thoại trên mạng di động mặt đất (QCVN 36:2022/BTTTT), Internet di động 4G (QCVN 81:2019/BTTTT) và Internet di động 5G (QCVN 126:2021/BTTTT, sửa đổi 1:2024, chỉ tiêu độ trễ do doanh nghiệp tự công bố). Dịch vụ 2G, 3G đã rời danh mục từ tháng 7.
- Quá trình soạn thảo: dự thảo được lấy ý kiến trên Cổng Thông tin điện tử Bộ từ 4/7 đến 25/7/2026. Trong bài viết cuối tháng 8, Bộ tóm tắt định hướng bằng cụm từ “đơn giản hóa thủ tục, tăng cường hậu kiểm”.
Thay đổi so với quy định năm 2013
Công bố trước khi bán, không phải sau. Theo văn bản hợp nhất 2013, doanh nghiệp bắt đầu cung cấp dịch vụ thuộc danh mục có 60 ngày kể từ ngày cung cấp để hoàn thành thủ tục công bố. Điều 5 thông tư mới yêu cầu công bố “trước khi cung cấp dịch vụ cho công cộng”. Cách làm giữ nguyên như sau phân cấp tháng 5/2026: 1 bộ hồ sơ (Mẫu số 01 và 02) nộp tại Bộ phận Một cửa của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính, qua bưu chính, Cổng Dịch vụ công quốc gia hoặc ứng dụng VNeID; trong 2 ngày làm việc tỉnh cấp Bản tiếp nhận (Mẫu số 03) và gửi một bản sao cho Cục Viễn thông; phải công bố lại trong 60 ngày khi quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng thay đổi hoặc nội dung công bố thay đổi. Mức công bố không được trái với mức quy định của quy chuẩn.
Không còn phải niêm yết tại điểm giao dịch. Quy định cũ buộc doanh nghiệp niêm yết Bản công bố chất lượng ở nơi dễ thấy tại mọi điểm giao dịch ký hợp đồng và mọi điểm cung cấp dịch vụ công cộng. Điều 5 và Điều 7 mới chỉ yêu cầu công khai trong chuyên mục “Quản lý chất lượng dịch vụ” trên trang thông tin điện tử chính thức của doanh nghiệp, đồng thời hợp đồng cung cấp dịch vụ và bản thông tin điều kiện sử dụng dịch vụ phải có đường dẫn đến chuyên mục này. Điều khoản “Đảm bảo chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng theo đúng chất lượng dịch vụ mà doanh nghiệp đã công bố” vẫn phải có trong hợp đồng.
Tự công bố được thu hẹp phạm vi nhưng ràng buộc rõ hơn. Thông tư 2013 yêu cầu mọi dịch vụ không thuộc danh mục phải tự công bố tiêu chuẩn tự nguyện áp dụng trên website. Điều 6 thông tư mới biến tự công bố (Mẫu số 04) thành nghĩa vụ bắt buộc trước khi chính thức cung cấp cho công cộng đối với ba nhóm được nêu tên: dịch vụ trung tâm dữ liệu, dịch vụ điện toán đám mây và dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet, tức các ứng dụng nhắn tin, gọi điện qua Internet đã được Luật Viễn thông 2023 đưa vào phạm vi điều chỉnh. Với dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet, việc tự công bố phải tuân theo điểm e khoản 2 Điều 28 của luật này. Các dịch vụ còn lại chỉ được khuyến khích tự công bố.
Tự kiểm tra hằng quý có quy tắc luân phiên và thời hạn công khai. Cả văn bản cũ và mới đều yêu cầu mỗi quý kiểm tra một lần, trong đó đo đánh giá thực tế từng dịch vụ thuộc danh mục tại ít nhất 3 địa bàn cấp tỉnh, hoặc tại tất cả địa bàn nếu cung cấp dưới 3 tỉnh. Điều 10 bổ sung ba điểm. Địa bàn đo không được lặp lại trong 12 tháng gần nhất, trừ khi cần theo dõi khắc phục suy giảm chất lượng, xử lý khiếu nại hoặc theo yêu cầu của cơ quan quản lý. Doanh nghiệp tự đo hoặc thuê Tổ chức đánh giá sự phù hợp, và với Internet băng rộng phải tham khảo kết quả đo qua trải nghiệm người dùng khi chọn địa bàn. Kết quả lập theo Mẫu số 05 và công khai trên chuyên mục trong 20 ngày kể từ ngày kết thúc quý. “Quy chế tự kiểm tra” trước đây phải gửi Cục Viễn thông trong 60 ngày nay trở thành “Quy chế kiểm tra, kiểm soát” nội bộ, phải có thêm quy trình tiếp nhận, xử lý phản ánh, khiếu nại, và không còn quy định phải gửi. Doanh nghiệp không có hạ tầng mạng, trên thực tế là các nhà mạng ảo, được dùng dữ liệu và kết quả của doanh nghiệp sở hữu hạ tầng để kiểm tra định kỳ nếu hợp đồng giữa hai bên quy định.
Cơ sở dữ liệu chất lượng trở thành nghĩa vụ. Chương IV là chương mới. Điều 11 yêu cầu doanh nghiệp xây dựng cơ sở dữ liệu gồm dữ liệu chi tiết về công bố chất lượng, dữ liệu lập báo cáo định kỳ, đột xuất và sự cố, dữ liệu lập kết quả kiểm tra và dữ liệu kiểm soát chất lượng; lưu trữ ít nhất 2 năm kể từ ngày lập; sẵn sàng chia sẻ với cơ quan quản lý khi có yêu cầu. Điều 20 giao Cục Viễn thông xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối với cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp và chia sẻ với tỉnh “khi sẵn sàng về hạ tầng kỹ thuật”. Điều 23 buộc doanh nghiệp cập nhật, chia sẻ dữ liệu theo hướng dẫn của Cục. Chế độ báo cáo định kỳ không còn được quy định trực tiếp; Điều 12 dẫn chiếu sang chế độ báo cáo định kỳ chung của Bộ.
Sự cố phải thông báo trong 4 giờ. Ngưỡng kích hoạt giữ nguyên: dịch vụ thuộc danh mục không sử dụng được trên toàn địa bàn một hay nhiều tỉnh, liên mạng hoặc quốc tế từ 2 giờ trở lên, nay loại trừ rõ sự cố do thảm họa, thiên tai. Cách xử lý thành hai bước. Điều 13 yêu cầu trong 4 giờ tiếp theo gửi thông báo ban đầu (Mẫu số 06) đến Cục Viễn thông và cơ quan chuyên môn của tỉnh qua hệ thống văn bản điện tử, thư điện tử hoặc kênh khác được thông báo; trong 5 ngày làm việc gửi báo cáo bằng văn bản về nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng và kết quả khắc phục (Mẫu số 07). Quy định cũ chỉ có một báo cáo bằng văn bản trong 3 ngày làm việc.
Kiểm tra chuyển sang cơ chế ngoại lệ. Thông tư 2013 buộc Cục Viễn thông ban hành kế hoạch kiểm tra vào tháng 1 hằng năm, các Sở vào tháng 2, thông báo trước ít nhất 7 ngày làm việc, cộng thêm kế hoạch đo kiểm hằng năm và đo kiểm đột xuất. Tất cả được bỏ. Điều 14 chỉ còn hai hình thức: kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc được Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao, và kiểm tra theo kế hoạch chuyên đề “trong trường hợp cần thiết”. Kế hoạch chuyên đề do Cục Viễn thông trình Bộ trưởng phê duyệt trước ngày 20/11 năm trước liền kề, tỉnh có thể ban hành kế hoạch riêng, và kế hoạch phải gửi Thanh tra Chính phủ để xử lý chồng chéo. Quyết định, thời hạn, cách tiến hành theo Nghị định 217/2025/NĐ-CP về kiểm tra chuyên ngành. Việc đo phục vụ kiểm tra, giám sát (Điều 18) do Tổ chức đánh giá sự phù hợp được Bộ chỉ định thực hiện và lưu số liệu ít nhất 2 năm. Điều khoản cũ buộc tổ chức đo kiểm thông báo trước cho doanh nghiệp về địa điểm, thời gian, nội dung đo không còn xuất hiện.
Đo qua trải nghiệm người dùng được luật hóa, kèm hàng rào. Điều 19 tạo cơ sở pháp lý cho việc đo “thông qua trải nghiệm của người sử dụng”: người dùng tự đo trên thiết bị đầu cuối kết nối đến Hệ thống đo tốc độ truy nhập Internet Việt Nam do Trung tâm Internet Việt Nam (VNNIC) vận hành tại speedtest.vn. Kết quả công khai hằng tháng trên trang thông tin điện tử của Cục Viễn thông và cơ quan chuyên môn của tỉnh. VNNIC chia sẻ dữ liệu theo từng doanh nghiệp để doanh nghiệp cải thiện chất lượng. Cũng tại điều này, thông tư khẳng định kết quả đó không thay thế kết quả đo theo quy chuẩn, không dùng để kết luận dịch vụ phù hợp hay không phù hợp quy chuẩn và “không làm phát sinh trách nhiệm xử phạt vi phạm hành chính”.
Cơ quan quản lý phải công khai việc mình làm. Điều 8 yêu cầu cơ quan quản lý ở Trung ương và địa phương công khai quyết định và kết quả kiểm tra, kế hoạch và kết quả kiểm tra chuyên đề, văn bản quy phạm pháp luật liên quan và kết quả đo qua trải nghiệm người dùng. Văn bản 2013 có nghĩa vụ tương tự với kế hoạch và kết quả; văn bản mới thêm dữ liệu người dùng và bỏ báo cáo công khai chất lượng hằng năm.
Ai chịu tác động
- Nhà mạng di động và các nhà mạng ảo dùng chung hạ tầng, với dịch vụ thoại, 4G, 5G. Nhà mạng ảo được dùng dữ liệu của mạng chủ theo hợp đồng.
- Doanh nghiệp Internet cố định cáp quang và cáp truyền hình, phải tham khảo dữ liệu speedtest.vn khi chọn địa bàn tự kiểm tra.
- Doanh nghiệp trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây, lần đầu có nghĩa vụ tự công bố chất lượng được nêu tên trước khi cung cấp dịch vụ.
- Dịch vụ nhắn tin, gọi điện qua Internet, phải tự công bố theo Điều 28 Luật Viễn thông 2023, nghĩa vụ áp dụng với cả ứng dụng nước ngoài lẫn trong nước.
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan chuyên môn (trên thực tế là Sở Khoa học và Công nghệ), tiếp nhận công bố, cấp bản tiếp nhận, công khai kết quả và có thể kiểm tra chuyên đề trên địa bàn.
- Người sử dụng, có một chuyên mục bắt buộc trên website nhà mạng với bản công bố, kết quả kiểm tra hằng quý và kênh khiếu nại, đường dẫn tới chuyên mục ngay trong hợp đồng, cùng bảng số liệu tốc độ thực tế công khai hằng tháng.
Ý nghĩa thực tiễn
Doanh nghiệp có 5 tháng chuẩn bị. Điều khoản chuyển tiếp (Điều 25) giữ nguyên giá trị mọi Bản tiếp nhận công bố do Cục Viễn thông hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp trước ngày 1/4/2027 cho đến khi phải công bố lại, nên doanh nghiệp đã công bố theo danh mục tháng 7/2026 không phải nộp lại hồ sơ. Doanh nghiệp chưa hoàn thành công bố hoặc tự công bố trước ngày đó có thêm 60 ngày, tức đến cuối tháng 5/2027. Từ nay đến tháng 4, việc nên làm gồm:
- dựng chuyên mục “Quản lý chất lượng dịch vụ” với đầy đủ nội dung của Điều 7 và gắn đường dẫn vào mọi mẫu hợp đồng, bản điều kiện sử dụng dịch vụ;
- viết lại quy chế kiểm tra, kiểm soát nội bộ để bao gồm kiểm tra tuân thủ, đo thực tế và xử lý khiếu nại; lập lịch luân phiên 12 tháng các địa bàn đo cho từng dịch vụ;
- bảo đảm kết quả hằng quý lập được theo Mẫu số 05 và công khai trong 20 ngày sau khi kết thúc quý, nghĩa là quý đầu tiên trọn vẹn theo quy định mới phải công khai trước ngày 20/7/2027;
- đặt đồng hồ 4 giờ cho thông báo sự cố ban đầu và 5 ngày làm việc cho báo cáo bằng văn bản tại trung tâm vận hành mạng;
- thiết kế cơ sở dữ liệu chất lượng theo bốn nhóm dữ liệu của Điều 11, lưu 2 năm, sẵn sàng kết nối với hệ thống của Cục Viễn thông;
- với dịch vụ đám mây, trung tâm dữ liệu và dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet, chuẩn bị bản tự công bố theo Mẫu số 04 trước mỗi lần ra mắt dịch vụ mới.
Với người dùng, thay đổi thực tế là minh bạch hơn. Từ tháng 4/2027 hợp đồng sẽ dẫn tới trang nơi mức chất lượng công bố, kết quả kiểm tra hằng quý và quy trình khiếu nại của nhà mạng bắt buộc phải có, còn bảng số liệu đo tốc độ hằng tháng của cơ quan quản lý là nguồn tham chiếu độc lập, dù thông tư nói rõ một tháng tốc độ kém trên speedtest.vn tự nó chưa phải là vi phạm.
Những điểm còn bỏ ngỏ
- Báo cáo định kỳ nào, tần suất bao nhiêu? Thông tư về chế độ báo cáo năm 2023 đã bãi bỏ báo cáo chất lượng hằng quý gửi Cục Viễn thông. Điều 12 mới dẫn chiếu sang chế độ báo cáo định kỳ của Bộ mà không nêu tên, nên tần suất thực tế phụ thuộc một văn bản khác.
- Kế hoạch chuyên đề đầu tiên. Kế hoạch phải được phê duyệt trước ngày 20/11 năm trước, trong khi thông tư chỉ có hiệu lực từ 1/4/2027. Kế hoạch năm 2027 làm theo khung cũ hay khung mới chưa được nói rõ.
- Tự công bố với dịch vụ nhắn tin, gọi điện qua Internet. Thông tư dẫn chiếu Điều 28 Luật Viễn thông, vốn quy định chung về dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet. Nền tảng nước ngoài nộp Mẫu số 04 ra sao, với ai, chưa được nêu.
- Luân phiên và độ phủ. Mỗi quý 3 tỉnh, 12 tháng không lặp lại, nghĩa là mỗi năm 12 tỉnh khác nhau cho mỗi dịch vụ trên tổng số 34 tỉnh, thành. Nhà mạng toàn quốc mất gần 3 năm mới đo hết một vòng nếu chỉ làm ở mức tối thiểu.
- Đăng tải. Đến thời điểm viết bài, thông tư mới chỉ có trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ và bản PDF ký số; danh mục văn bản của Bộ và Công báo chưa cập nhật.
Nguồn
- Thông tư 64/2026/TT-BKHCN, toàn văn ký số kèm 7 biểu mẫu (Cổng TTĐT Chính phủ, PDF)
- Thông tư 64/2026/TT-BKHCN, thông tin văn bản gồm người ký và ngày hiệu lực (vanban.chinhphu.vn)
- Văn bản hợp nhất 10/2026/VBHN-TT-BKHCN, Thông tư 08/2013 hợp nhất các sửa đổi đến tháng 5/2026 (Công báo số 494, 28/8/2026)
- Đơn giản hóa thủ tục, tăng cường hậu kiểm: bước chuyển mới trong quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông (Bộ Khoa học và Công nghệ, 27/8/2026)
- Dự thảo Thông tư quy định về quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông, lấy ý kiến từ 4/7 đến 25/7/2026 (Bộ Khoa học và Công nghệ)
- Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất các quy định về quản lý chất lượng dịch vụ viễn thông (Tạp chí Luật sư Việt Nam, 9/7/2026)
- Nhà mạng có thể phải công khai chất lượng dịch vụ, người dùng sắp có thêm căn cứ để đối chiếu (Đọc Nhanh, 28/7/2026)
- Ban hành danh mục mới về dịch vụ viễn thông phải quản lý chất lượng, về Thông tư 28/2026/TT-BKHCN (Mekong ASEAN, 12/6/2026)
- Doanh nghiệp viễn thông phải công bố chất lượng dịch vụ trong vòng 60 ngày kể từ 15/7/2026 (LuatVietnam, 5/6/2026)
- Thông tư 21/2026/TT-BKHCN: sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính viễn thông (LuatVietnam)
Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.