Máy tính, điện thoại, máy in và linh kiện điện tử đã qua sử dụng phần lớn bị cấm nhập khẩu vào Việt Nam từ nhiều năm nay. Đến nay, danh mục hàng cấm vẫn được công bố theo một thông tư năm 2018 của Bộ Thông tin và Truyền thông (cũ), ban hành trên nền Luật Công nghệ thông tin 2006. Thông tư 63/2026/TT-BKHCN chuyển danh mục này sang khung pháp lý mới. Gần như toàn bộ các nhóm hàng được giữ nguyên, còn các quy tắc áp dụng thì thay đổi.
Văn bản là gì
Tên đầy đủ: Thông tư công bố chi tiết Danh mục sản phẩm công nghệ số đã qua sử dụng cấm nhập khẩu kèm theo mã số hàng hóa (mã HS). Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ký ban hành ngày 27/10/2026 tại Hà Nội, theo đề nghị của Cục trưởng Cục Công nghiệp công nghệ thông tin. Văn phòng Chính phủ đăng tải văn bản ngày 29/10. Thông tư có 3 điều và một phụ lục dài 5 trang, có hiệu lực từ 01/01/2027.
Thông tư căn cứ vào các văn bản sau:
- Luật Công nghiệp công nghệ số (Luật số 71/2025/QH15, thông qua ngày 14/6/2025);
- Luật Quản lý ngoại thương;
- Nghị định 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương;
- Nghị định 353/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 hướng dẫn Luật Công nghiệp công nghệ số.
Theo Điều 1, danh mục được công bố để cụ thể hóa khoản 2 Điều 5 Nghị định 292/2026.
Từ ngày 01/01/2027, Thông tư 11/2018/TT-BTTTT ngày 15/10/2018 (áp dụng từ 30/11/2018) hết hiệu lực.
Danh mục gồm những gì
Phụ lục gồm hàng hóa thuộc hai chương của biểu mã HS.
- Chương 84:
- máy in, máy photocopy, máy fax thuộc nhóm 8443, gồm 8 mã 8 số được liệt kê và hộp mực in đã có mực (8443 99 20);
- máy tính toán, máy tính tiền (8470);
- toàn bộ máy xử lý dữ liệu tự động (8471), tức máy tính để bàn, máy tính xách tay, máy chủ.
- Chương 85:
- điện thoại, kể cả điện thoại thông minh, và thiết bị mạng (8517);
- micro, loa, tai nghe, bộ khuếch đại (8518);
- thiết bị phát sóng và camera (8525);
- ra đa, thiết bị điều khiển từ xa bằng vô tuyến (8526);
- máy thu thanh (8527);
- màn hình, máy chiếu, máy thu hình (8528);
- mạch in (8534);
- đèn và ống điện tử (8540);
- mạch điện tử tích hợp (8542);
- dây, cáp điện và cáp sợi quang (8544), trong đó 17 dòng cáp được liệt kê đến mã 8 số.
Cách áp dụng mã HS như sau:
- danh mục ghi đến nhóm 4 số thì cấm toàn bộ các mã 8 số thuộc nhóm đó;
- ghi đến phân nhóm 6 số thì cấm toàn bộ các mã 8 số thuộc phân nhóm;
- ghi đến mã 8 số thì chỉ cấm đúng mã đó.
Bộ phận, phụ kiện, cụm linh kiện và linh kiện điện tử đã qua sử dụng của sản phẩm trong danh mục cũng bị cấm nhập khẩu.
Thay đổi so với năm 2018
Các nhóm hàng gần như giữ nguyên. Mọi nhóm 4 số trong phụ lục năm 2018 đều có mặt trong danh mục mới. Mô tả nhóm 8517 nay ghi thêm “kể cả điện thoại thông minh”, theo cách diễn đạt của biểu mã mới. Ở nhóm máy in, mã 8443 32 49 có trong danh mục năm 2018 nhưng không xuất hiện trong phụ lục mới, và thông tư không giải thích lý do.
Biểu mã HS được cập nhật, kèm quy tắc xử lý khi không khớp. Danh mục năm 2018 xây dựng theo Thông tư 65/2017/TT-BTC; danh mục mới theo Thông tư 31/2022/TT-BTC ngày 08/6/2022. Điểm b khoản 1 Điều 2 bổ sung một quy tắc văn bản cũ không có: nếu mã HS trong danh mục không thống nhất với Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam thì áp dụng pháp luật về hải quan.
Các trường hợp loại trừ đối với máy in được chuyển vào phụ lục. Năm 2018, các trường hợp này nằm trong phần điều khoản. Nay chúng được ghi ở cột ghi chú của nhóm 8443, nội dung không đổi. Các trường hợp không bị cấm gồm:
- máy in, máy photocopy kỹ thuật số đa màu;
- máy in, máy photocopy kỹ thuật số đơn sắc (đen trắng) in/copy được khổ A0 hoặc đạt tốc độ từ 35 bản/phút khổ A4 trở lên;
- hộp mực in laser.
Văn bản năm 2018 dẫn chiếu máy đa màu sang pháp luật về in. Văn bản mới chỉ loại các máy này ra khỏi danh mục.
Định nghĩa hàng tân trang được viết lại. Sản phẩm tân trang có mã HS thuộc danh mục vẫn bị cấm nhập khẩu như trước. Định nghĩa thì đã thay đổi:
- Năm 2018: sản phẩm tân trang phải có nhãn bằng tiếng Việt ghi rõ là hàng tân trang (hoặc tiếng nước ngoài có nghĩa tương đương), và có chế độ bảo hành như sản phẩm mới của nhà sản xuất.
- Năm 2026: sản phẩm tân trang phải đáp ứng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật, chế độ bảo hành và quy định về nhãn hàng hóa như sản phẩm mới.
Yêu cầu ghi rõ trên nhãn là “hàng tân trang” không còn xuất hiện trong văn bản này.
Thiết bị cho sản xuất chip, nghiên cứu và phát triển nằm ngoài danh mục cấm. Điểm e khoản 2 Điều 2 là quy định mới. Điểm này áp dụng cho dây chuyền công nghệ, máy móc, thiết bị, công cụ đã qua sử dụng nếu:
- đáp ứng tiêu chí được phép nhập khẩu theo pháp luật về công nghiệp công nghệ số;
- phục vụ trực tiếp dự án đầu tư sản xuất, đóng gói, kiểm thử chip bán dẫn, hoặc hoạt động đào tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ số;
- không thuộc danh mục cấm.
Các tiêu chí này được quy định tại Thông tư 30/2025/TT-BKHCN. Chẳng hạn, máy móc đã qua sử dụng được nhập khẩu nếu tuổi thiết bị không quá 20 năm, trong khi giới hạn chung theo Thông tư 56/2026/TT-BKHCN là 10 năm. Thiết bị dùng cho đào tạo, nghiên cứu và phát triển còn được miễn một số tiêu chí về hiệu suất. Quy định mới đặt hai cơ chế này cạnh nhau trong cùng văn bản về danh mục cấm.
Ai chịu tác động, cần làm gì
Đối tượng chịu tác động gồm:
- doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh phần cứng công nghệ thông tin;
- cơ sở tân trang;
- nhà sản xuất điện tử nhập thiết bị cũ để kiểm thử hoặc sản xuất;
- đại lý làm thủ tục hải quan;
- nhà đầu tư bán dẫn mà Chính phủ đang muốn thu hút.
Một số điểm cần lưu ý:
- Văn bản cho phép đã cấp: theo khoản 3 Điều 3, hàng thuộc danh mục cũ đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép nhập khẩu trước ngày 01/01/2027 được tiếp tục nhập theo nội dung và trong thời hạn của văn bản cho phép.
- Trường hợp nhập khẩu đặc biệt: thông tư không thay đổi thủ tục xin phép nhập khẩu hàng thuộc danh mục cấm. Thủ tục này vẫn theo Thông tư 26/2025/TT-BKHCN (có hiệu lực từ 31/10/2025), áp dụng cho các trường hợp: phục vụ mục đích đặc dụng, di chuyển phương tiện sản xuất trong cùng tổ chức, nghiên cứu khoa học, tái nhập hàng đã đưa ra nước ngoài sửa chữa, linh kiện tân trang thay thế cho sản phẩm không còn được sản xuất, và gia công cho thương nhân nước ngoài.
- Cơ sở tân trang: nên rà lại sự phù hợp của sản phẩm theo chuẩn áp dụng cho hàng mới, thay vì chỉ dựa vào cách ghi nhãn cũ.
- Doanh nghiệp nhập khẩu: nên đối chiếu ngay mã HS của mình với biểu mã năm 2022, vì khi có khác biệt, phân loại theo pháp luật hải quan sẽ được áp dụng.
Những điểm còn bỏ ngỏ
- Mã 8443 32 49: chưa rõ việc bỏ mã này là do biểu mã năm 2022 đánh số lại hay thực sự thu hẹp phạm vi cấm. Doanh nghiệp nhập loại máy liên quan nên hỏi cơ quan hải quan hoặc Bộ Khoa học và Công nghệ.
- Thủ tục nhập khẩu đặc biệt: Thông tư 26/2025/TT-BKHCN được ban hành theo Nghị định 146/2025/NĐ-CP, trong khi khung pháp lý về ngoại thương nay đã chuyển sang Nghị định 292/2026. Thông tư 63 không cho biết thủ tục này có được ban hành lại hay không.
- Nhãn hàng tân trang: định nghĩa mới không còn nói rõ hàng tân trang phải ghi nhãn là hàng tân trang. Cần chờ xem quy định về bảo vệ người tiêu dùng hoặc nhãn hàng hóa có lấp khoảng trống này hay không.
Nguồn
- Thông tư 63/2026/TT-BKHCN, bản ký số (Cổng TTĐT Chính phủ, PDF)
- Thông tư 63/2026/TT-BKHCN, phụ lục danh mục kèm mã HS (Cổng TTĐT Chính phủ, PDF)
- Thông tư 63/2026/TT-BKHCN, thông tin văn bản (vanban.chinhphu.vn)
- Thông tư 63/2026/TT-BKHCN, trang văn bản (Bộ Khoa học và Công nghệ)
- Thông tư 11/2018/TT-BTTTT, toàn văn (caselaw.vn)
- Thông tư 26/2025/TT-BKHCN về cho phép nhập khẩu hàng thuộc danh mục cấm (Cổng PBGDPL Cần Thơ)
- Thông tư 30/2025/TT-BKHCN: tiêu chí nhập khẩu thiết bị cũ cho sản xuất chip và nghiên cứu công nghệ số (VnEconomy)
- Luật Công nghiệp công nghệ số 71/2025/QH15 (LuatVietnam)
Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.