Từ 15/11/2026, bãi bỏ ba thông tư về chữ ký số của Bộ Thông tin và Truyền thông cũ

Có những thay đổi pháp lý quan trọng nằm ở việc bãi bỏ chứ không phải ban hành quy định mới. Ngày 01/10/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đăng trên cổng văn bản pháp luật của Bộ Thông tư 59/2026/TT-BKHCN. Thông tư chỉ có hai điều và không đặt thêm nghĩa vụ nào. Nội dung của nó là bãi bỏ ba thông tư do Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành trước khi bộ này hợp nhất vào Bộ Khoa học và Công nghệ năm 2025. Suốt gần 17 năm qua, ba văn bản này điều chỉnh hai việc: thủ tục cấp phép cho tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số, và cách cơ quan nhà nước ký số, kiểm tra chữ ký số trên văn bản điện tử. Từ 15/11/2026, hai việc đó chỉ còn được điều chỉnh bởi các văn bản mới ban hành theo Luật Giao dịch điện tử năm 2023.

Thông tin văn bản

  • Số hiệu: Thông tư 59/2026/TT-BKHCN
  • Cơ quan ban hành: Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ trưởng Vũ Hải Quân ký
  • Ngày ký: 25/9/2026 (đăng trên cổng thông tin của Bộ ngày 01/10/2026)
  • Ngày có hiệu lực: 15/11/2026
  • Đơn vị đề nghị: Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia (NEAC), đơn vị vận hành tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số gốc quốc gia
  • Căn cứ ban hành: Nghị định 78/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 187/2025/NĐ-CP), Nghị định 23/2025/NĐ-CP ngày 21/02/2025 quy định về chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy, và Nghị định 225/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ
  • Bố cục: hai điều (Điều 1 về bãi bỏ, Điều 2 về điều khoản thi hành)

Những văn bản bị bãi bỏ

Điều 1 bãi bỏ toàn bộ ba thông tư:

  1. Thông tư 37/2009/TT-BTTTT ngày 14/12/2009 quy định về hồ sơ, thủ tục liên quan đến cấp phép, đăng ký, công nhận các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số. Thông tư này được ban hành để hướng dẫn Nghị định 26/2007/NĐ-CP, nghị định đã được thay thế bằng Nghị định 130/2018/NĐ-CP từ năm 2018.
  2. Thông tư 08/2011/TT-BTTTT ngày 31/3/2011, sửa đổi, bổ sung Thông tư 37/2009/TT-BTTTT về cùng các thủ tục đó.
  3. Thông tư 41/2017/TT-BTTTT ngày 19/12/2017 (hiệu lực từ 05/02/2018) quy định sử dụng chữ ký số cho văn bản điện tử trong cơ quan nhà nước. Văn bản này quy định cách người có thẩm quyền và văn thư thực hiện ký số, việc quản lý khóa bí mật con dấu, quy trình kiểm tra hiệu lực chứng thư số qua CRL hoặc OCSP đến tận Root CA, các thông tin phải lưu kèm văn bản ký số, và yêu cầu chức năng đối với phần mềm ký số, phần mềm kiểm tra chữ ký số.

Thông tư 59 không nêu văn bản nào thay thế từng thông tư bị bãi bỏ. Với một thông tư chỉ để bãi bỏ thì điều này bình thường, nhưng người áp dụng phải tự đối chiếu quy định cũ với quy định hiện hành.

Quy định hiện hành thay cho các thông tư cũ

  • Cấp phép dịch vụ. Hồ sơ cấp phép theo Thông tư 37/2009 và 08/2011 không còn khớp với pháp luật hiện hành. Nghị định 23/2025, có hiệu lực từ 10/4/2025, quy định điều kiện cung cấp dịch vụ tin cậy tại Điều 18, và hồ sơ, trình tự cấp, cấp lại, sửa đổi, gia hạn giấy phép tại các Điều 19–21. Hai thông tư cũ đã bị vượt qua hai lần, trước bởi Nghị định 130/2018 rồi đến Nghị định 23/2025. Thông tư 59 chính thức loại chúng khỏi hệ thống văn bản.
  • Ký số và kiểm tra chữ ký số. Những nội dung trước đây nằm trong Thông tư 41/2017 nay được quy định ở cấp nghị định. Điều 15 Nghị định 23/2025 buộc người ký kiểm tra trạng thái chứng thư của mình và của tổ chức cấp chứng thư trước khi ký. Điều 16 buộc người nhận kiểm tra hiệu lực tại thời điểm ký, kể cả trên hệ thống của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số gốc quốc gia. Người nhận phải chịu trách nhiệm nếu bỏ qua bước kiểm tra hoặc vẫn chấp nhận chứng thư mà mình biết đã bị tạm dừng, thu hồi. Điều 13–14 quy định chứng thư số của cơ quan, tổ chức và người có thẩm quyền, trong đó việc ký thay, ký thừa lệnh theo quy định được coi là ký bởi người có chức danh ghi trên chứng thư.
  • Phần mềm. Điều 17 Nghị định 23/2025 liệt kê các chức năng bắt buộc của phần mềm ký số và phần mềm kiểm tra chữ ký số, và cấm dùng rào cản kỹ thuật để hạn chế việc kiểm tra chữ ký. Yêu cầu kỹ thuật chi tiết nằm ở Thông tư 15/2025/TT-BKHCN (ban hành ngày 15/8/2025, có hiệu lực từ ngày ký, thay thế Thông tư 22/2020/TT-BTTTT): phần mềm phải kiểm tra hiệu lực chứng thư trước khi cho người dùng ký và phải hỗ trợ gắn dấu thời gian.

Đối tượng chịu tác động

  • Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Quy chế ký số nội bộ và hồ sơ hệ thống thông tin của nhiều nơi có thể vẫn dẫn chiếu Thông tư 41/2017. Từ 15/11, những dẫn chiếu đó trỏ vào một văn bản đã hết hiệu lực. Các chữ ký đã thực hiện không bị ảnh hưởng. Việc cần làm là sửa quy chế để căn cứ vào Nghị định 23/2025 và Thông tư 15/2025, và vào Nghị định 68/2024/NĐ-CP nếu cơ quan dùng chữ ký số chuyên dùng công vụ. Cách thể hiện chữ ký số trên văn bản hành chính vẫn theo Nghị định 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư. Thông tư 41/2017 chỉ dẫn chiếu sang quy định này.
  • Nhà cung cấp phần mềm quản lý văn bản, điều hành điện tử. Nhiều hồ sơ mời thầu và biên bản nghiệm thu vẫn chép danh mục chức năng tại Điều 11–12 Thông tư 41/2017. Từ nay hồ sơ dự thầu và kiểm tra nên dẫn Điều 17 Nghị định 23/2025 và Thông tư 15/2025. Mốc thời gian quan trọng hơn việc bãi bỏ là khoản 6 Điều 47 Nghị định 23/2025: phần mềm ứng dụng có tích hợp phần mềm ký số, kiểm tra chữ ký số có 02 năm kể từ 10/4/2025 để rà soát, nâng cấp theo Điều 17. Hạn đó là 10/4/2027, chưa đầy năm tháng sau khi Thông tư 59 có hiệu lực.
  • Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực. Trên thực tế không có gì thay đổi, vì việc cấp phép đã thực hiện theo Nghị định 23/2025 từ tháng 4/2025. Thông tư 59 chỉ loại bỏ các văn bản thủ tục cũ mâu thuẫn với nghị định.
  • Doanh nghiệp và cá nhân. Người dùng chữ ký số công cộng để ký hóa đơn, tờ khai thuế, hợp đồng không phải làm gì thêm. Việc bãi bỏ không ảnh hưởng đến chứng thư, khóa hay giá trị pháp lý của văn bản đã ký.

Ý nghĩa

Sau đợt sắp xếp bộ máy năm 2025, nhiều bộ đang giữ những thông tư do một cơ quan không còn tồn tại ban hành. Bộ Khoa học và Công nghệ đang lần lượt thay thế hoặc bãi bỏ các văn bản TT-BTTTT cũ, và Thông tư 59 thuộc loại dọn dẹp đó. Dù vậy nó vẫn đáng chú ý, vì Thông tư 41/2017 là văn bản duy nhất mô tả từng bước việc ký số và kiểm tra chữ ký số trên văn bản điện tử của cơ quan nhà nước. Các yêu cầu đó nay nằm ở cấp nghị định và áp dụng chung cho mọi chủ thể, không riêng khu vực nhà nước.

Những điểm còn bỏ ngỏ

  • Quy định riêng cho khu vực công của Thông tư 41/2017. Một số nội dung không có quy định tương ứng rõ ràng trong Nghị định 23/2025, chẳng hạn việc người đứng đầu giao văn thư quản lý khóa bí mật con dấu, yêu cầu cất giữ thiết bị lưu khóa tại trụ sở, hay danh mục thông tin lưu kèm văn bản đi, văn bản đến. Các cơ quan sẽ phải tự đưa vào quy chế nội bộ hoặc chờ hướng dẫn theo quy định về giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước (Nghị định 137/2024/NĐ-CP).
  • Văn bản mật. Thông tư 41/2017 không áp dụng cho văn bản chứa bí mật nhà nước. Lĩnh vực này vẫn thuộc cơ chế cơ yếu và chữ ký số chuyên dùng công vụ, không bị ảnh hưởng bởi việc bãi bỏ.
  • Các đợt bãi bỏ tiếp theo. Tên thông tư là “bãi bỏ một số thông tư”, cho thấy Bộ đang rà soát lĩnh vực chữ ký điện tử theo từng đợt. Các thông tư TT-BTTTT khác về chữ ký số, như thông tư về tiêu chuẩn và quy chế chứng thực, có thể sẽ được xử lý tiếp.

Nguồn

Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.