Mười năm tuổi, còn 85% công suất: Quy định nhập khẩu máy móc cũ chuyển từ Thủ tướng về cấp bộ

Phần lớn thay đổi pháp lý tự bộc lộ qua các con số ngưỡng. Văn bản này thì không. Thông tư 56/2026/TT-BKHCN giữ nguyên mọi con số mà doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị công nghiệp đã qua sử dụng đã quen thuộc từ năm 2019 — tuổi thiết bị không quá 10 năm, công suất còn lại tối thiểu 85% so với thiết kế, mức tiêu hao không vượt quá 15% so với thiết kế, công nghệ đang được sử dụng tại ít nhất ba cơ sở sản xuất ở các nước OECD. Điều thay đổi nằm ở chính hình thức văn bản: quy tắc đưa máy móc đã qua sử dụng vào Việt Nam không còn do Thủ tướng Chính phủ ấn định, mà nay do một bộ ban hành.

Văn bản này là gì

Tên đầy đủ là Thông tư quy định việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng. Thông tư được Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân ký tại Hà Nội ngày 05/9/2026, theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Đánh giá và Thẩm định công nghệ; khoản 1 Điều 18 quy định thông tư có hiệu lực ngay từ ngày ký. Văn bản gồm 18 điều chia thành 5 chương, kèm một phụ lục về giới hạn tuổi thiết bị theo lĩnh vực và một phụ lục thứ hai gồm 12 biểu mẫu.

Hiệu lực ngay trong ngày ký không phải là sơ suất. Nó trùng đúng ngày Nghị định 292/2026/NĐ-CP ngày 22/7/2026 có hiệu lực — nghị định thay thế Nghị định 69/2018/NĐ-CP trong vai trò văn bản quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương số 05/2017/QH14. Chế định nhập khẩu máy móc đã qua sử dụng gắn với nghị định đó, nên khi cái khung dịch chuyển, các quy tắc dịch chuyển theo. Các căn cứ pháp lý còn lại của thông tư là Nghị định 225/2026/NĐ-CP ngày 24/6/2026 về cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ, và Nghị định 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026 quy định chi tiết Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa.

Phạm vi điều chỉnh không đổi so với chế định trước: máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng có mã HS thuộc Chương 84 và Chương 85 của Danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam, nhập khẩu để phục vụ sản xuất tại Việt Nam và không thuộc danh mục cấm nhập khẩu. Mười nhóm trường hợp được loại trừ, trong đó có quá cảnh, tạm nhập tái xuất, mua bán giữa các doanh nghiệp chế xuất, và thiết bị phục vụ nghiên cứu khoa học hoặc quốc phòng.

Thông tư thay đổi những gì

Các tiêu chí nội dung được giữ gần như nguyên văn. Điều 5 (dây chuyền công nghệ) và Điều 6 (máy móc, thiết bị riêng lẻ) chép lại gần như từng khoản các tiêu chí của Quyết định 18/2019/QĐ-TTg ngày 19/4/2019, đã được sửa đổi bởi Quyết định 28/2022/QĐ-TTg ngày 20/12/2022. Dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng được nhập khẩu nếu được sản xuất theo QCVN — hoặc, khi chưa có QCVN, theo TCVN hoặc tiêu chuẩn quốc gia của một nước G7 hay Hàn Quốc — về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường; nếu công suất hoặc hiệu suất còn lại đạt tối thiểu 85% so với thiết kế; nếu mức tiêu hao nguyên, vật liệu và năng lượng không vượt quá 15% so với thiết kế; nếu công nghệ không thuộc danh mục công nghệ cấm hoặc hạn chế chuyển giao; và nếu công nghệ đó đang được sử dụng tại ít nhất ba cơ sở sản xuất trong các nước OECD. Máy móc, thiết bị riêng lẻ phải có tuổi không quá 10 năm, với bảng tuổi theo lĩnh vực tại Phụ lục I — 20 năm với phần lớn máy trong lĩnh vực cơ khí, 15 năm với một số thiết bị ngành gỗ, bột giấy và giấy — giữ nguyên như phụ lục năm 2019.

Hai dẫn chiếu bên trong các tiêu chí được cập nhật. Danh mục công nghệ cấm và hạn chế chuyển giao nay là danh mục tại Nghị định 101/2026/NĐ-CP ngày 31/3/2026, thay cho Nghị định 76/2018/NĐ-CP. Và trường hợp loại trừ dành cho máy móc đã thuộc một danh mục quản lý chất lượng nay dẫn chiếu tới Danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro cao — bậc “rủi ro cao” do luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi năm 2025 đưa vào — thay cho “nhóm 2” (hàng hóa có khả năng gây mất an toàn) trước đây.

Luồng ưu tiên nay mở thêm cho doanh nghiệp công nghệ chiến lược. Theo chế định 2019, con đường nhập khẩu rút gọn — đưa dây chuyền về, bảo quản dưới sự giám sát của hải quan, lắp đặt rồi nộp chứng thư giám định sau — dành cho doanh nghiệp công nghệ cao, dự án ứng dụng công nghệ cao và dự án được hưởng ưu đãi đầu tư đặc biệt theo khoản 2 Điều 20 Luật Đầu tư. Khoản 3 Điều 7 của thông tư vẽ lại danh sách đó thành doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược và các dự án được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt. “Doanh nghiệp công nghệ chiến lược” là hạng mục mới đối với chế định này. Cơ chế tại Điều 8 về cơ bản không đổi: chứng thư giám định phải nộp trong 12 tháng kể từ khi lô hàng đầu tiên được đưa về bảo quản, được gia hạn một lần tối đa 6 tháng với điều kiện thông báo trước 30 ngày; dây chuyền chỉ được lắp đặt, vận hành để phục vụ giám định chứ không được đưa vào sản xuất; và giám định không đạt đồng nghĩa với xử phạt hành chính và buộc tái xuất.

Giấy tờ nhường chỗ cho tra cứu cơ sở dữ liệu. Xuyên suốt các Điều 7, 8, 9 và 10, cơ quan xử lý việc nhập khẩu nay có trách nhiệm tự tra cứu Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp — và với luồng ưu tiên là giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao hoặc công nghệ chiến lược — trên các cơ sở dữ liệu quốc gia đã công bố, và chỉ được yêu cầu doanh nghiệp nộp bản sao có đóng dấu khi tra cứu không được hoặc dữ liệu không đầy đủ. Quyết định năm 2019 đơn giản là yêu cầu nộp bản sao.

Một đồng hồ bị cắt đôi, một điểm nộp hồ sơ biến mất. Trong thủ tục ngoại lệ tại Điều 10 — dành cho thiết bị vượt giới hạn tuổi nhưng vẫn giữ 85% công suất và tiêu hao trong phạm vi 15% — các bộ quản lý ngành và chuyên gia nay có 5 ngày làm việc để cho ý kiến về hồ sơ, giảm từ 10 ngày. Bộ Khoa học và Công nghệ có 2 ngày làm việc để từ chối hoặc yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ chưa đầy đủ, thay cho cách chia cũ: trả lại ngay, 8 giờ làm việc hoặc 2 ngày tùy kênh nộp. Riêng đề nghị điều chỉnh danh mục thiết bị hoặc gia hạn thời hạn giám định nay chỉ gửi cơ quan hải quan; văn bản năm 2019 yêu cầu gửi cả hải quan lẫn Bộ.

Một cơ sở dữ liệu quốc gia được hứa hẹn. Khoản 6 Điều 13 giao Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng, vận hành cơ sở dữ liệu về nhập khẩu máy móc đã qua sử dụng, và khoản 4 Điều 16 yêu cầu các tổ chức giám định được chỉ định cập nhật dữ liệu chứng thư trong 5 ngày làm việc kể từ ngày cấp, một khi hệ thống vận hành. Trước thời điểm đó, quy tắc cũ tồn tại như giải pháp chuyển tiếp: gửi bản giấy về Bộ trong 15 ngày, áp dụng với dây chuyền công nghệ và với máy móc mà chứng thư ghi nhận không có QCVN, TCVN hay tiêu chuẩn G7/Hàn Quốc tương ứng. Bộ sẽ công bố ngày vận hành; thông tư không nêu.

Hai nhiệm vụ cấp bộ biến mất. Quyết định năm 2019 yêu cầu Bộ Khoa học và Công nghệ công bố danh sách máy móc mà các nước đã công bố loại bỏ vì lạc hậu, chất lượng kém, gây ô nhiễm, và phối hợp với Bộ Tài chính thống kê nhập khẩu hằng năm để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Cả hai đều không xuất hiện trong Điều 13 của thông tư. Trước đây, các bộ quản lý ngành đề xuất giới hạn tuổi thiết bị theo lĩnh vực để Bộ tổng hợp và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; khoản 2 Điều 14 nay chỉ yêu cầu gửi đề xuất về Bộ Khoa học và Công nghệ “để xem xét, điều chỉnh phù hợp” — sự phân cấp gói gọn trong một khoản.

Ai bị ảnh hưởng và cần làm gì

Mọi doanh nghiệp nhập khẩu thiết bị đã qua sử dụng có mã HS thuộc Chương 84 và 85 để sản xuất tại Việt Nam đều trong phạm vi, cùng với các tổ chức giám định được chỉ định — nơi cấp chứng thư mà việc thông quan phụ thuộc vào. Cơ quan hải quan áp dụng các tiêu chí tại cửa khẩu; Bộ Tài chính giám sát quá trình nhập khẩu; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cùng Bộ kiểm tra sau thông quan trong vòng 90 ngày kể từ khi doanh nghiệp báo cáo thông quan một dây chuyền theo luồng ưu tiên.

Trên thực tế: các chỉ định đã cấp, chứng thư đã cấp, hồ sơ đề nghị chỉ định đang xử lý, hồ sơ ngoại lệ đang xử lý và tờ khai đã đăng ký trước ngày 05/9 tiếp tục thực hiện theo Quyết định 18/2019/QĐ-TTg, theo năm quy tắc chuyển tiếp tại Điều 17. Hồ sơ mới đi theo thông tư. Doanh nghiệp đã đạt chuẩn công nghệ cao nên kiểm tra xem nhãn “công nghệ chiến lược” có mở luồng ưu tiên cho một tập rộng hơn các công ty trong hệ thống hay không. Ai đang dựa vào thủ tục ngoại lệ cho thiết bị quá tuổi cần lưu ý cửa sổ lấy ý kiến đã thu hẹp — con dao hai lưỡi: câu trả lời nhanh hơn, nhưng bộ ngành có ít thời gian hơn để xem xét một hồ sơ phức tạp. Các tổ chức giám định nên chuẩn bị cho cơ sở dữ liệu; nghĩa vụ cập nhật trong 5 ngày làm việc là một nhịp vận hành khác hẳn việc gửi bản giấy trong 15 ngày.

Những câu hỏi còn bỏ ngỏ

Câu hỏi lớn nhất mang tính hình thức. Không văn bản nào bãi bỏ Quyết định 18/2019/QĐ-TTg. Điều 18 của thông tư hoàn toàn không có điều khoản bãi bỏ hay thay thế nào, và danh sách bãi bỏ tại khoản 2 Điều 65 Nghị định 292/2026/NĐ-CP nêu Nghị định 146/2025, hai nghị quyết của Chính phủ và Quyết định 11/2013/QĐ-TTg — không có Quyết định 18/2019. Điều khoản chuyển tiếp tại Điều 17 rõ ràng coi quyết định năm 2019 là chế định cũ, nhưng lại không bãi bỏ minh thị, để lại một quyết định của Thủ tướng và một thông tư cấp bộ cùng điều chỉnh một vấn đề. Liên quan: khoản 4 Điều 64 Nghị định 292/2026 cho phép văn bản cấp bộ hướng dẫn Nghị định 69/2018 tiếp tục có hiệu lực đến 31/12/2026 — một mốc nằm khá gượng cạnh một thông tư đã có hiệu lực từ ngày 05/9.

Hai câu hỏi nhỏ hơn. Thông tư không ấn định ngày vận hành cơ sở dữ liệu nhập khẩu, nên chế độ bản giấy chuyển tiếp kéo dài không thời hạn. Và hạng mục tổ chức giám định được thừa nhận — nước ngoài hoặc “thừa nhận” theo văn bản năm 2019 — không xuất hiện trong danh sách thẩm quyền của Bộ, nay chỉ còn chỉ định và thu hồi.

Bài viết mang tính thông tin về một văn bản pháp luật đã ban hành, không phải tư vấn pháp lý; ai đang có hồ sơ nhập khẩu dở dang nên đối chiếu văn bản chính thức và tham vấn ý kiến chuyên môn.

Nguồn

© 2026 NDT Blog