Từ 01/10/2026, người dân được yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin qua Internet

Khi Luật Tiếp cận thông tin 2026 có hiệu lực ngày 01/9/2026 (bài viết trước), vẫn còn một khoảng trống: Tòa án áp dụng luật này ra sao? Tòa án không thuộc hệ thống hành chính, nên một nghị định của Chính phủ không thể quy định cách thẩm phán trả lời yêu cầu cung cấp thông tin. Câu trả lời có hiệu lực từ 01/10/2026, khi Thông tư 16/2026/TT-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao bắt đầu được thi hành. Văn bản chỉ có 12 điều, nhưng quy định rõ Tòa án phải công khai những gì, người dân yêu cầu thông tin qua mạng Internet bằng cách nào và Tòa án phải trả lời trong bao lâu.

Văn bản này là gì

  • Số hiệu, trích yếu: Thông tư số 16/2026/TT-TANDTC quy định về công khai hoạt động của Tòa án nhân dân.
  • Cơ quan ban hành: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Nguyễn Văn Quảng ký, theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học.
  • Ngày ký: 10/9/2026, tại Hà Nội.
  • Hiệu lực: 01/10/2026 (Điều 12).
  • Căn cứ: Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số 34/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung bởi các Luật số 81/2025, 106/2025, 116/2025, 142/2025 và 150/2025/QH15; Luật Tiếp cận thông tin số 01/2026/QH16.
  • Đối tượng áp dụng: các Tòa án nhân dân và các đơn vị thuộc TAND tối cao. Tòa án quân sự cũng thực hiện theo Thông tư, trừ trường hợp pháp luật hoặc Bộ Quốc phòng có quy định khác (Điều 2).

Tòa án phải công khai những gì

Điều 5 chia nội dung công khai thành hai nhóm.

Hoạt động xét xử, giải quyết vụ án, vụ việc: thông tin thụ lý vụ án hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; vụ việc phục hồi, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã; vụ việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án; vụ việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đi cai nghiện bắt buộc; công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án; thông tin nhận, thụ lý đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm; thông tin phiên tòa, phiên họp; nội quy phiên tòa; và bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp pháp luật quy định không được công khai.

Ba nhóm đầu (thụ lý, đơn giám đốc thẩm/tái thẩm, thông tin phiên tòa) được công khai cho người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức, cá nhân theo pháp luật tố tụng. Nội quy phiên tòa và bản án, quyết định có hiệu lực được công khai rộng rãi cho mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân (Điều 4).

Các hoạt động khác của Tòa án gồm 14 đầu mục: thông tin về Tòa án, tiếp công dân, thủ tục hành chính tư pháp, xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, phát triển án lệ, tổ chức cán bộ, tài chính, thanh tra, thi đua khen thưởng, hợp tác quốc tế, hoạt động của Học viện Tòa án, quản lý khoa học và phổ biến, giáo dục pháp luật.

Công khai và yêu cầu thông tin trên môi trường số

Đây là phần mang tính công nghệ của Thông tư. Điều 6 xếp Cổng thông tin điện tử, Trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, kênh thông tin, trang cộng đồng chính thức, nền tảng số và ứng dụng dùng chung của Tòa án lên đầu danh sách hình thức công khai, trước phương tiện thông tin đại chúng, Công báo, Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật và việc niêm yết tại trụ sở.

Điều 7 là thay đổi người dân dễ nhận thấy nhất. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể trực tiếp hoặc thông qua người đại diện yêu cầu Tòa án cung cấp thông tin theo một trong ba cách:

  1. tại trụ sở Tòa án;
  2. qua dịch vụ bưu chính;
  3. qua mạng Internet: thư điện tử, Cổng/Trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, Cổng Dịch vụ công quốc gia, ứng dụng di động hoặc nền tảng số khác do Tòa án công bố.

Khoản 2 Điều 7 còn cho phép người yêu cầu tại trụ sở Tòa án dùng điện thoại di động và phương tiện kỹ thuật cá nhân để sao, chụp, tải về văn bản, hồ sơ, tài liệu, trừ trường hợp pháp luật liên quan quy định khác. Quy định nhỏ này có thể thay đổi đáng kể thực tế tiếp dân hằng ngày.

Khoản 3 Điều 11 giao Cục Công nghệ thông tin TAND tối cao bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, an toàn thông tin và duy trì hệ thống công khai trên môi trường số. Văn phòng các cấp, từ Văn phòng TAND tối cao đến Văn phòng Tòa án nhân dân khu vực, là đầu mối tiếp nhận yêu cầu.

Thời hạn và các trường hợp từ chối

  • Chậm nhất 12 ngày kể từ khi nhận được yêu cầu hợp lệ, Tòa án phải cung cấp thông tin. Nếu cần thêm thời gian, Tòa án được gia hạn tối đa 12 ngày, nhưng phải thông báo bằng văn bản trong thời hạn ban đầu (Điều 8). Mốc này thống nhất với Điều 26 Luật Tiếp cận thông tin 2026.
  • Từ chối phải bằng văn bản và nêu rõ lý do. Điều 9 chỉ cho phép bốn căn cứ: thông tin vi phạm nguyên tắc tại Điều 3 hoặc không thuộc nội dung được công khai theo Điều 5; không thuộc trách nhiệm cung cấp; đã cung cấp hai lần cho chính người yêu cầu (trừ khi có lý do chính đáng); hoặc vượt quá khả năng đáp ứng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của Tòa án.
  • Đính chính. Nếu phát hiện thông tin đã cung cấp không chính xác, không đầy đủ, Tòa án phải đính chính, bổ sung chậm nhất 05 ngày làm việc kể từ khi phát hiện. Người yêu cầu cho rằng thông tin sai có quyền đề nghị kiểm tra lại, và Tòa án phải trả lời trong 10 ngày (Điều 10).

Giới hạn nằm ở Điều 3: việc công khai không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc; phải bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật điều tra, bí mật công tác, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh; bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, dữ liệu cá nhân và người chưa thành niên. Cuộc họp nội bộ và tài liệu soạn thảo cho công việc nội bộ không được công khai. Thông tin đã công khai không được sử dụng vào mục đích trái pháp luật.

Ai chịu tác động, ý nghĩa thực tế

  • Đương sự và luật sư có một kênh chính thức, có thời hạn, để tra cứu tình trạng thụ lý và lịch phiên tòa qua mạng, thay vì gọi điện hay đến trụ sở nhiều lần. Quá hạn 12 ngày giờ là vi phạm một quy định thành văn, không chỉ là chậm trễ.
  • Doanh nghiệp khi thẩm định đối tác (hồ sơ phá sản, tranh chấp thương mại) có thể gửi yêu cầu bằng văn bản và nhận lại văn bản trả lời: hoặc thông tin, hoặc lời từ chối có lý do.
  • Nhà báo và nhà nghiên cứu có danh mục rõ ràng các thông tin quản trị Tòa án được công khai (tài chính, cán bộ, thanh tra, xây dựng văn bản) và được chụp lại tài liệu được xem.
  • Các Tòa án từ 01/10 cần có kênh tiếp nhận yêu cầu trên Internet, sổ theo dõi để áp dụng căn cứ “đã cung cấp hai lần”, và quy trình che thông tin cá nhân. Việc Điều 3 nêu đích danh dữ liệu cá nhân gắn hoạt động công khai của Tòa án với chế độ bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Những điểm còn bỏ ngỏ

  • Không có điều khoản bãi bỏ. Điều 12 không bãi bỏ hay thay thế văn bản nào. Từ năm 2017, việc công bố bản án trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án do Nghị quyết 03/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán điều chỉnh. Thông tư dẫn chiếu “pháp luật có liên quan” về hình thức và thời điểm công khai (khoản 3 Điều 6), cho thấy các quy định chi tiết về công bố bản án của Nghị quyết 2017 nhiều khả năng vẫn áp dụng song song. Tuy nhiên, văn bản không nói thẳng điều này.
  • Không có biểu mẫu, không nói về chi phí. Khác nhiều thông tư, văn bản này không kèm mẫu phiếu yêu cầu và không đề cập chi phí sao chụp. Những nội dung đó có lẽ được để cho Luật 2026 và văn bản hướng dẫn luật điều chỉnh.
  • “Vượt quá khả năng đáp ứng” (khoản 4 Điều 9) là một căn cứ từ chối có phạm vi mở. Mức độ các Tòa án, nhất là Tòa án khu vực quy mô nhỏ, viện dẫn căn cứ này sẽ quyết định thời hạn 12 ngày có thực chất hay không.
  • Nền tảng số nào được tính phụ thuộc vào việc từng Tòa án công bố kênh tiếp nhận. Bản thân Thông tư không liệt kê địa chỉ thư điện tử hay ứng dụng nào, nên kênh trực tuyến vận hành nhanh hay chậm sau 01/10 tùy vào các thông báo đó.

Nguồn

Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.