Thông tư 152/2026/TT-BTC: giữ nguyên mức phí cấp phép an ninh mạng, chuyển sang thu ngay khi nộp hồ sơ

Hai tháng sau khi Chính phủ ban hành khung cấp phép mới cho doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng, Bộ Tài chính đã ban hành biểu phí đi kèm. Thông tư 152/2026/TT-BTC quy định phí và lệ phí cho bốn thủ tục theo Luật An ninh mạng mới: giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng; chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy; giấy phép nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng; và giấy chứng nhận tên định danh người gửi dùng trong quảng cáo trên mạng. Mức thu không tăng cũng không giảm, gần như trùng hoàn toàn với năm 2016. Thay đổi nằm ở căn cứ pháp lý, cơ quan thu và thời điểm phải nộp tiền.

Văn bản là gì

Thông tư 152/2026/TT-BTC “quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí và lệ phí thuộc lĩnh vực an ninh mạng” do Thứ trưởng Bộ Tài chính Cao Anh Tuấn ký ngày 09/10/2026, theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế, phí và lệ phí. Theo Điều 6, Thông tư có hiệu lực ngay từ ngày ký. Bản ký số được đăng trên Cổng Thông tin điện tử Chính phủ ngày 13/10, cùng ngày VTV và CafeF đưa tin.

Văn bản ngắn, gồm 6 điều và một trang phụ lục biểu mức thu. Căn cứ ban hành gồm Luật Phí và lệ phí 97/2015/QH13, Luật Quản lý thuế 108/2025/QH15, Luật An ninh mạng 116/2025/QH15, Nghị định 91/2020/NĐ-CP về chống tin nhắn rác, thư điện tử rác, cuộc gọi rác, và Nghị định 332/2026/NĐ-CP về kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng. Khoản 2 Điều 6 chấm dứt hiệu lực của Thông tư 269/2016/TT-BTC. Đây là thông tư năm 2016 quy định cùng nhóm phí cho lĩnh vực an toàn thông tin, theo Luật An toàn thông tin mạng 2015.

Biểu mức thu

Nội dung Thông tư 152/2026 Thông tư 269/2016
Thẩm định cấp giấy phép kinh doanh lần đầu/cấp lại, một loại hình sản phẩm/dịch vụ 8.000.000 đ 8.000.000 đ
— thêm mỗi loại hình 2.000.000 đ 2.000.000 đ
Cấp đổi: đổi tên, đổi người đại diện theo pháp luật 3.000.000 đ 3.000.000 đ
Cấp đổi: thay đổi một loại hình 3.000.000 đ 3.000.000 đ
Cấp đổi: thêm một loại hình 1.000.000 đ 1.000.000 đ
Thẩm định gia hạn giấy phép 500.000 đ 500.000 đ
Thẩm định chứng nhận hợp quy lần đầu 5.000.000 đ 5.000.000 đ
Thẩm định chứng nhận hợp chuẩn lần đầu 5.000.000 đ 5.000.000 đ
Thẩm định công bố hợp quy, hợp chuẩn 100.000 đ 100.000 đ
Giấy phép nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng: cấp lần đầu / cấp lại 200.000 / 100.000 đ 200.000 / 100.000 đ
Giấy chứng nhận tên định danh người gửi: cấp lần đầu / cấp lại, gia hạn 200.000 / 100.000 đ 200.000 / 100.000 đ

Một số dòng được viết lại cho khớp với thủ tục mới. Biểu năm 2016 tính phí “cấp lại khi hết hạn” cho giấy phép và cho chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy. Biểu năm 2026 chỉ ghi “cấp lại” cho giấy phép và chỉ tính phí chứng nhận lần đầu, không còn dòng cấp lại khi hết hạn. Các trường hợp thay đổi giấy phép được gom vào mục “cấp đổi giấy phép”, đúng thuật ngữ của Nghị định 332. Với quảng cáo, giấy chứng nhận nay cấp cho “tên định danh người gửi” chứ không còn là “tên định danh người dùng”. Khoản 100.000 đồng cho việc sửa đổi nội dung giấy chứng nhận bị bỏ, thay bằng khoản “cấp lại, gia hạn” cùng mức.

Thực chất thay đổi ở đâu

Căn cứ pháp lý và cơ quan thu. Biểu phí năm 2016 gắn với Luật An toàn thông tin mạng 2015 và Bộ Thông tin và Truyền thông. Thông tư 269 ghi đích danh Cục An toàn thông tin là tổ chức thu. Từ ngày 01/7/2026, Luật An ninh mạng 116/2025 có hiệu lực thay luật cũ. Còn việc cấp giấy phép kinh doanh và giấy phép nhập khẩu thì Bộ Công an đã đảm nhận từ đợt sắp xếp bộ máy năm 2025. Từ đó đến nay, thông tư phí vẫn dẫn chiếu một đạo luật đã bị thay thế và một cơ quan không còn làm thủ tục. Thông tư 152 xử lý điểm vướng này. Điều 3 không nêu tên đơn vị cụ thể mà quy định tổ chức thu là “cơ quan nhà nước có thẩm quyền” thẩm định, cấp từng loại giấy tờ.

Thời điểm nộp tiền. Đây là thay đổi doanh nghiệp cần để ý nhất. Theo Thông tư 269, người nộp phí là tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép, giấy chứng nhận. Theo khoản 1 Điều 2 Thông tư 152, phí thẩm định giấy phép kinh doanh, phí chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy và lệ phí giấy phép nhập khẩu phải nộp ngay khi nộp hồ sơ đề nghị. Riêng lệ phí tên định danh người gửi vẫn nộp khi được cấp (khoản 2). Khoản 3 Điều 6 quy định hồ sơ nộp trước ngày 09/10/2026 mà chưa nộp phí, lệ phí thì thu theo Thông tư mới.

Tiền đi đâu. Thông tư 269 cho phép tổ chức thu được khoán chi phí hoạt động để lại 90% số phí thu được. Điều 5 Thông tư 152 yêu cầu nộp 100% vào ngân sách nhà nước, kể cả tiền lãi phát sinh trên số dư tài khoản thu phí. Chi phí của tổ chức thu do ngân sách bố trí trong dự toán. Việc khai, nộp thực hiện theo Điều 3 Nghị định 362/2025/NĐ-CP, nghị định hướng dẫn Luật Phí và lệ phí.

Ai chịu tác động

  • Doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an ninh mạng thuộc diện cấp phép theo Nghị định 332, gồm đơn vị kiểm tra, đánh giá, giám sát (SOC), ứng cứu sự cố, và các nhóm mới được bổ sung như dịch vụ ẩn danh IP, nền tảng tiếp nhận báo cáo lỗ hổng. Một giấy phép một loại hình mất 8 triệu đồng. Doanh nghiệp xin bốn loại hình nộp 8 + 3 × 2 = 14 triệu đồng.
  • Đơn vị nhập khẩu sản phẩm an ninh mạng có mã HS trong Phụ lục II Nghị định 332. Giấy phép nhập khẩu theo nghị định này cấp theo từng lô hàng, nên khoản 200.000 đồng phát sinh lại ở mỗi lô.
  • Nhà sản xuất, phòng thử nghiệm làm chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy về an ninh mạng.
  • Doanh nghiệp quảng cáo và đại lý gửi tin nhắn, thư điện tử đăng ký tên định danh người gửi (brandname) theo Nghị định 91/2020.

Doanh nghiệp cần làm gì

Chuẩn bị tiền phí từ lúc nộp hồ sơ, đừng đợi đến lúc được cấp. Thông tư không nói gì về hoàn trả. Phí thẩm định là tiền trả cho việc thẩm định, nên hồ sơ bị từ chối hay rút lại nhiều khả năng vẫn mất khoản này. Hồ sơ nộp trước 09/10 mà chưa đóng phí sẽ được yêu cầu nộp theo Thông tư 152, mức tiền vẫn như cũ.

Rà lại các tài liệu nội bộ, báo giá, hồ sơ thầu còn dẫn Thông tư 269/2016 và cụm từ “an toàn thông tin mạng”. Một số trang hướng dẫn thủ tục trực tuyến có thể vẫn dùng cách gọi cũ. Mức tiền không đổi, nhưng chứng từ hay hồ sơ dẫn chiếu văn bản đã hết hiệu lực dễ bị hỏi lại, mất thời gian không đáng.

Những điểm còn bỏ ngỏ

  • Giấy phép xuất khẩu. Nghị định 332 đặt ra giấy phép xuất khẩu đối với một số sản phẩm an ninh mạng, nhưng biểu phí không có dòng nào cho thủ tục này. Có thể thủ tục này không thu phí, cũng có thể sẽ có văn bản khác quy định. Thông tư không nói rõ.
  • Gia hạn chứng nhận. Biểu phí chỉ tính phí chứng nhận hợp chuẩn, hợp quy lần đầu. Chưa rõ việc cấp lại khi chứng nhận hết hạn là miễn phí, tính như lần đầu hay đi theo thủ tục khác.
  • Cơ quan cấp tên định danh người gửi. Như các dòng khác, Thông tư chỉ ghi “cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Doanh nghiệp cần chờ hướng dẫn thi hành Nghị định 91/2020 theo luật mới để biết nộp hồ sơ và nộp tiền ở đâu.
  • Hiệu lực ngay khi ký. Giống Nghị định 332, Thông tư có hiệu lực từ ngày ký, không có thời gian chờ, và bốn ngày sau bản ký số mới được đăng công khai. Các khoản thu trong khoảng này chỉ dựa vào điều khoản chuyển tiếp tại khoản 3 Điều 6.

Nguồn

Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.