Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo mới thay Quyết định 127: kinh tế AI 6% GDP, 8 mô hình tiếng Việt, nhiều nhiệm vụ đến hạn cuối năm 2026

Việt Nam đã có Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo mới. Quyết định 1671/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký thay Thủ tướng ngày 28/8/2026, phê duyệt “Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký (khoản 1 Điều 3). Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan trình, theo Tờ trình 158/TTr-BKHCN ngày 28/7/2026.

Quyết định đã được ký hơn một tháng. Tuần này nó trở thành tin vì Bộ KH&CN đã bắt tay vào triển khai. Tại họp báo ngày 30/9/2026, Thứ trưởng Trần Trung Tính nêu việc tổ chức triển khai Chiến lược là một nhiệm vụ trọng tâm của Bộ, cùng với mở rộng ứng dụng AI hỗ trợ công vụ. Bên cạnh đó, một số sản phẩm của chính Chiến lược có hạn trong năm 2026, tức chỉ còn chưa đầy ba tháng.

Thay thế văn bản nào

Khoản 2 Điều 3 quy định Quyết định này thay thế Quyết định 127/QĐ-TTg ngày 26/01/2021 ban hành “Chiến lược quốc gia về nghiên cứu, phát triển và ứng dụng Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030”. Các nhiệm vụ, đề án đang triển khai theo Quyết định 127 vẫn được thực hiện tiếp cho đến khi hoàn thành hoặc được điều chỉnh, tích hợp vào Chiến lược mới (khoản 3 Điều 3).

Việc ban hành chiến lược mới đã nằm trong lộ trình. Quyết định 367/QĐ-TTg ngày 28/02/2026 về Kế hoạch triển khai thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo 134/2025/QH15 (có hiệu lực từ 01/3/2026) yêu cầu ban hành Chiến lược trong năm 2026 và rà soát, cập nhật ít nhất 03 năm một lần.

Tên gọi của văn bản đã cho thấy cách tiếp cận mới. Chiến lược năm 2021 nói về “nghiên cứu, phát triển và ứng dụng” AI. Quan điểm đầu tiên của Chiến lược năm 2026 là chuyển sang “chuyển đổi AI quốc gia”. Theo đó, AI không còn là phần gắn thêm vào sản phẩm, quy trình sẵn có mà trở thành “năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành”. Nhân lực, hạ tầng và dữ liệu được coi là nền tảng; thể chế và quản trị AI là khâu đột phá.

Mục tiêu năm 2021 và mục tiêu năm 2026

Quyết định 127/QĐ-TTg (2021) Quyết định 1671/QĐ-TTg (2026)
Xếp hạng đến 2030 Nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN, nhóm 50 thế giới Nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu và phát triển AI
Tầm nhìn dài hạn — Nhóm 10 nước dẫn đầu châu Á vào năm 2045
Thương hiệu 10 thương hiệu AI có uy tín trong khu vực Tối thiểu 10 thương hiệu AI có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế
Hạ tầng tính toán 3 trung tâm quốc gia về dữ liệu lớn và tính toán hiệu năng cao Khoảng 560 EFLOPS BF16 (khoảng 1.100 EFLOPS FP8), công suất điện khoảng 500 MW
Trung tâm 3 trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia về AI 3 cơ sở nghiên cứu, trung tâm AI xuất sắc tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh

Phụ lục I gồm 32 chỉ tiêu, mỗi chỉ tiêu có cơ quan chủ trì theo dõi. Các mục tiêu chính đến năm 2030 tại Điều 1 gồm:

  • Quy mô kinh tế AI khoảng 6% GDP; năng suất lao động trong các ngành ứng dụng AI tăng tối thiểu 10–15%; kim ngạch xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp tích hợp AI đạt khoảng 05 tỷ USD.
  • 08 mô hình AI tiếng Việt, mỗi cỡ hai mô hình: dưới 07 tỷ tham số, từ 07 đến dưới 70 tỷ, từ 70 đến dưới 300 tỷ, và từ 300 tỷ tham số trở lên. Kèm theo là 01 nền tảng đánh giá mô hình AI tiếng Việt.
  • AI trong bộ máy nhà nước: 100% dịch vụ công trực tuyến được tích hợp, hỗ trợ bởi AI; 100% hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ xử lý bằng AI; 100% cán bộ, công chức, viên chức dùng nền tảng AI công vụ hằng tuần; 60% quyết định chỉ đạo, điều hành có dữ liệu và AI hỗ trợ.
  • Nhân lực: 10.000 người được đào tạo chuyên sâu về AI, 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên biết ứng dụng AI, 500.000 lao động được đào tạo lại, 10 triệu lao động có kỹ năng AI cơ bản.
  • Doanh nghiệp: ít nhất 100 doanh nghiệp khởi nghiệp AI định giá trên 10 triệu USD; 500.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã được hỗ trợ giải pháp AI; 60% doanh nghiệp ứng dụng AI ghi nhận hiệu quả thực tế.
  • Nguồn lực: tổng đầu tư cho AI đạt 1–1,5% GDP mỗi năm, trong đó đầu tư từ ngân sách nhà nước khoảng 0,6% tổng chi ngân sách hằng năm.

97 nhiệm vụ và những việc phải xong trong năm 2026

Phụ lục II liệt kê 97 nhiệm vụ, chia thành 14 nhóm, mỗi nhiệm vụ có cơ quan chủ trì và thời hạn. Phần lớn kéo dài 2026–2030, nhưng một số việc phải xong trong năm nay hoặc năm sau:

  • Bộ Công an chủ trì xây dựng văn bản quy định hoặc hướng dẫn về kiểm soát luồng dữ liệu trong hoạt động AI xuyên biên giới và kiểm soát xuất khẩu công nghệ AI nhạy cảm, hạn 2026 (nhiệm vụ 73). Cũng trong năm 2026, Bộ phải ban hành cơ chế mở, chia sẻ, truy cập an toàn dữ liệu (nhiệm vụ 12) và hình thành thị trường dữ liệu, nền tảng chia sẻ dữ liệu phục vụ AI (nhiệm vụ 11). Quy định về quyền tài sản đối với dữ liệu, sở hữu trí tuệ và khai thác hợp pháp nội dung phục vụ AI có hạn 2027 (nhiệm vụ 13). Theo điểm c khoản 3 Điều 2, Bộ Công an còn xây dựng và vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về trí tuệ nhân tạo.
  • Bộ KH&CN phải có phiên bản đầu tiên của Nền tảng AI hỗ trợ công vụ quốc gia vào cuối năm 2026 (nhiệm vụ 34). Trong năm 2026, Bộ cũng phải xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyển đổi AI của từng bộ, ngành, địa phương, sau đó đánh giá và công bố công khai hằng năm (nhiệm vụ 94–95). Khung đạo đức AI quốc gia và cơ chế giám sát đạo đức AI được ghi hạn 2026 (nhiệm vụ 64). Bộ chuẩn đánh giá mô hình AI tiếng Việt có hạn 2027 (nhiệm vụ 15).
  • Bộ Nội vụ ban hành Đề án quốc gia đào tạo lại nhóm lao động có nguy cơ bị AI thay thế trong năm 2027 (nhiệm vụ 3).

Ai chịu tác động

Chiến lược là quyết định chính sách, không phải nghị định, nên không đặt ra chế tài hay thủ tục cấp phép với doanh nghiệp tư nhân. Dù vậy, doanh nghiệp vẫn chịu tác động theo ba cách.

Thứ nhất, Nhà nước là khách hàng. Các bộ, ngành, địa phương phải công bố bài toán AI ưu tiên, dữ liệu có thể khai thác, nhu cầu thuê, mua sắm, tiêu chí lựa chọn và ngân sách dự kiến để doanh nghiệp tham gia (điểm g khoản 8 Điều 2). Chiến lược cũng yêu cầu ưu tiên sản phẩm AI “Make in Việt Nam” trong các dự án CNTT, chính phủ số và dịch vụ công, kèm cơ chế ưu đãi khi lựa chọn nhà thầu. Doanh nghiệp AI trong nước nên theo dõi các danh mục này. Nhà cung cấp nước ngoài cần tính đến việc nhà thầu nội được ưu tiên.

Thứ hai, yêu cầu về chủ quyền AI. Chiến lược ưu tiên công nghệ nguồn mở, mô hình có trọng số mở, có thể kiểm tra và triển khai độc lập. Văn bản cũng yêu cầu không phụ thuộc vào một thị trường, một nền tảng, một mô hình hay một chuỗi cung ứng duy nhất. Đối với FDI vào trung tâm R&D AI, Chiến lược đặt điều kiện chuyển giao công nghệ, nội địa hóa và lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam “trong các trường hợp pháp luật quy định”. Quy định về luồng dữ liệu AI xuyên biên giới mà Bộ Công an phải ban hành trong năm 2026 là nội dung nhà cung cấp AI nước ngoài cần theo dõi sát nhất.

Thứ ba, kỳ vọng đặt ra cho doanh nghiệp. Khoản 9 và khoản 10 Điều 2 yêu cầu doanh nghiệp, nhất là các tập đoàn công nghệ số và doanh nghiệp nhà nước chủ chốt, xây dựng kế hoạch triển khai Chiến lược, đào tạo lại người lao động, bố trí kinh phí đào tạo lại cho lao động bị tác động bởi tự động hóa và tuân thủ pháp luật về dữ liệu, AI, an ninh mạng. Đây là định hướng chính sách, không phải nghĩa vụ pháp lý, nhưng các doanh nghiệp nhà nước thường thực hiện như chỉ đạo.

Những điểm còn bỏ ngỏ

  • Chưa có hạn cho kế hoạch của các bộ. Mọi bộ, ngành, địa phương phải ban hành kế hoạch triển khai (chỉ tiêu 13), nhưng Điều 2 không ấn định thời hạn. Cần chờ xem cuộc họp báo ngày 30/9 có dẫn đến một mốc cụ thể hay không.
  • Khung đạo đức AI. LuatVietnam cho biết đã có Khung đạo đức trí tuệ nhân tạo quốc gia từ 10/3/2026, nhưng nhiệm vụ 64 vẫn ghi việc “ban hành” Khung và cơ chế giám sát đạo đức AI là sản phẩm năm 2026. Chưa rõ đây là bản sửa đổi hay một văn bản riêng về cơ chế giám sát.
  • Hai hệ thống cơ sở dữ liệu về AI. Cơ sở dữ liệu quốc gia về AI do Bộ Công an vận hành và hạ tầng tuân thủ theo Luật Trí tuệ nhân tạo cùng nghị định hướng dẫn cần được phân định rõ vai trò.
  • Ưu đãi thuế. Ưu đãi thuế cho hoạt động AI và cho trung tâm dữ liệu, HPC phục vụ AI mới chỉ dừng ở mức “nghiên cứu” (nhiệm vụ 76 và điểm c khoản 1 mục IV), chưa có mốc thời gian.

Nguồn

Bài viết mang tính thông tin, không phải tư vấn pháp lý.